Tiến sĩ Đinh Thị Mỹ Loan - Chủ tịch Hiệp hội các nhà bán lẻ Việt Nam

PV: Trước việc Tập đoàn Central Group ra thông báo tạm dừng nhập các hàng may mặc của các doanh nghiệp Việt Nam tại các hệ thống siêu thị BigC với lý do “tái cấu trúc lại các ngành hàng, đã có ý kiến cho rằng Big C đang cố tình “hất” hàng Việt ra khỏi hệ thống bán lẻ của mình để đưa hàng ngoại vào độc chiếm thị trường. Quan điểm của bà và vấn đề này như thế nào?

TS. Đinh Thị Mỹ Loan: Trước hết, tôi xin chia sẻ những quan tâm, lo lắng cho các doanh nghiệp có các hợp đồng cung ứng hàng may mặc cho hệ thống siêu thị BigC, thậm chí bức xúc của dư luận xung quanh việc siêu thị Big C ra thông báo tạm ngừng nhập hàng may mặc của Việt Nam như vừa qua. Tuy nhiên đối với mọi vấn đề xảy ra, mọi sự khác biệt và tranh chấp đều có thể giải quyết trên cơ sở hợp đồng giữa các bên và quy định của pháp luật thông qua các phương thức giải quyết như thương lượng trực tiếp, hòa giải hoặc đưa ra tòa án/trọng tài.

Về ý  kiến cho rằng “Big C đang cố tình “hất” hàng Việt ra khỏi hệ thống bán lẻ của mình để đưa hàng ngoại vào độc chiếm thị trường”, theo tôi, chúng ta cần nhìn nhận vấn đề  thấu đáo, chính xác và khách quan hơn. Trên thực tế, nguồn cung cho các nhà bán lẻ lớn (cả Việt Nam lẫn FDI) phần lớn là hàng Việt Nam, tỉ lệ từ 60 – 70% cho đến 90% hoặc hơn. Nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế cũng cho thấy hầu như không có nhà bán lẻ FDI lớn nào chỉ kinh doanh hàng của nước mình hoặc hàng nhập mà không chú trọng hàng hóa của nước sở tại nơi họ đầu tư.

Các doanh nghiệp bán lẻ không thể chỉ bán hàng của các nước chủ sở hữu của hệ thống bán lẻ của mình mà phải luôn luôn bán cả hàng hóa của quốc gia đang là thị trường sở tại. Thậm chí, hàng nội địa còn luôn có tỉ lệ cao hơn so với hàng của nước chủ sở hữu hoặc hàng nhập, bởi đây không phải chỉ là ý muốn chủ quan của doanh nghiệp bán lẻ mà còn do yêu cầu khách quan của thị trường, cụ thể là nhu cầu của người tiêu dùng. Theo khảo sát và nghiên cứu của chúng tôi, cùng với các hệ thống bán lẻ “thuần Việt”  hàng đầu của SaigonCoop, Vincommerce … với tỉ lệ hàng Việt trên 90%,  hiện nay không chỉ có Big C mà còn có hệ thống các nhà bán lẻ nước ngoài khác như AEON, Lotte…, tỉ lệ hàng Việt trong các hệ thống bán lẻ này vẫn cao hơn so với tỉ lệ hàng ngoại nhập.

Ngoài ra, cũng cần phải nhìn nhận khách quan là trong những năm qua, siêu thị Big C và Central Group tại Việt Nam cũng đã có những hành động cụ thể trong việc hỗ trợ hàng hóa Việt Nam như là ưu tiên cho hàng hóa của các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nước có mặt trong các gian hàng của Big C, đặc biệt trong đó có các doanh nghiệp may mặc, có chương trình hỗ trợ và giúp đỡ các nhà cung cấp nhỏ về đóng gói, bao bì, giới thiệu hàng hóa và tìm nguồn tài chính … và hằng năm họ còn tổ chức Tuần lễ hàng Việt  tại  Bangkok (Thái Lan).

Trong những năm qua, siêu thị Big C và Central Group tại Việt Nam cũng đã có những hành động cụ thể trong việc hỗ trợ hàng hóa Việt Nam.

PV: Từ vụ việc của Big C vừa qua, theo bà, doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam đã đủ sức làm chủ cuộc chơi phân phối hàng hóa trên thị trường nội đại hiện nay hay chưa?

TS. Đinh Thị Mỹ Loan: Tôi cho rằng nếu nói doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam chưa đủ sức làm chủ cuộc chơi thì chưa chính xác. Tuy thị trường bán lẻ Việt Nam hiện nay có sự hiện diện của rất nhiều doanh nghiệp bán lẻ nước ngoài, nhưng các doanh nghiệp bán lẻ của Việt Nam vẫn chiếm đa số cả về số lượng lẫn mạng lưới. Cùng với đó là các sự vươn lên của các doanh nghiệp bán lẻ trong nước, hệ thống không ngừng được mở rộng thêm và nâng cao chất lượng phục vụ, do đó không thể nói là doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam chưa đủ sức làm chủ cuộc chơi phân phối hàng hóa trên thị trường nội địa hiện nay. Bên cạnh đó cũng phải nói rằng, trong những năm gần đây, người tiêu dùng trong nước đã có ý thức rất cao trong việc dùng hàng nội địa theo tinh thần người Việt ưu tiên dùng hàng Việt. Song chỉ vậy thôi thì chưa đủ, còn cần phải có sự cộng hưởng từ phía các doanh nghiệp sản xuất trong nước, phải chuyển sang tư duy hoàn thiện hơn, đó là phải nâng cao hơn nữa về chất lượng, mẫu mã sản phẩm, giá thành hợp lý để từ đó chiếm trọn niềm tin của người tiêu dùng trong nước một cách thuyết phục và bền vững.

PV: Việt Nam đã ký kết các FTA thế hệ mới, trong đó có nhiều mặt hàng nhập khẩu sẽ đưa xuống mức thuế quan 0%. Điều này đồng nghĩa với việc thị trường Việt Nam sẽ có sự tham gia của hàng hóa nhiều nước và cạnh tranh khốc liệt hơn. Theo bà, các nhà bán lẻ Việt Nam cần phải làm gì để có thể đáp ứng được đòi hỏi mới của thị trường cũng như cạnh tranh hiệu quả với hệ thống bán lẻ của các doanh nghiệp nước ngoài?

TS. Đinh Thị Mỹ Loan: Đây hoàn toàn không phải là vấn đề gì mới mẻ vì nó đã được phân tích và nhìn nhận ngay từ khi Việt Nam gia nhập WTO và đặc biệt càng được nói đến nhiều hơn sau khi ký kết các FTA thế hệ mới vừa qua. Tôi cho rằng ở đây chúng ta cần nhìn nhận ở ba khía cạnh.

Thứ nhất, đối với các doanh nghiệp bán lẻ của Việt Nam. Đối với nhà bán lẻ  mà nói thì quan điểm nhất quán vẫn là phải phục vụ người tiêu dùng, lấy người tiêu dùng là trung tâm. Đối với các nhà bán lẻ Việt Nam, điều cần làm là phải nâng cao năng lực, đổi mới mô hình, cách thức hoạt động của mình để phù hợp với tình hình mới. Hiện nay, doanh nghiệp bán lẻ trong nước có những khó khăn như quy mô nhỏ bé, phát triển sau, nguồn lực về tài chính hạn chế… Mặt khác, dù có những bước phát triển nhưng ngành bán lẻ Việt Nam vẫn còn rất nhiều vấn đề phải đối mặt như chất lượng nguồn nhân lực, tính chuyên nghiệp chưa cao, logistics cho bán lẻ vẫn yếu kém, chi phí cao cho hệ thống kho bãi, vận tải, làm giá hàng hóa tăng lên, ảnh hưởng tới sức cạnh tranh. Ứng dụng khoa học và công nghệ của các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam còn thấp, trong khi đây lại là thế mạnh của các doanh nghiệp bán lẻ nước ngoài. Do đó, chuyển đổi về mặt số (Digital Transformation) và ứng dụng công nghệ trong bán lẻ là một đòi hỏi cấp bách đối với các doanh nghiệp bán lẻ trong nước.

Thứ hai, đối với các doanh nghiệp trong nước. Để hàng hóa Việt cạnh tranh thành công với hàng hóa nước ngoài thì không chỉ có sự nỗ lực của các doanh nghiệp bán lẻ, mà còn phải bắt đầu từ các doanh nghiệp sản xuất trong nước. Các doanh nghiệp sản xuất của Việt Nam cũng cần phải thay đổi tư duy, thay đổi cách thức, ứng dụng công nghệ hiện đại để sao cho chất lượng sản phẩm được nâng cao, giá thành hợp lý, mẫu mã đa dạng, tạo được niềm tin của người tiêu dùng nội địa. Hàng hóa tốt, hệ thống phân phối tốt thì chúng ta mới thành công được

Thứ ba, đó là vấn đề cạnh tranh. Hiện nay, sau khi Việt Nam ký kết các FTA thế hệ mới, nhiều dự báo cho thấy hàng hóa của các doanh nghiệp nước ngoài sẽ tràn vào Việt Nam. Một thị trường 95 triệu dân với mức thuế quan nhiều mặt hàng về 0% chắc chắn có sức hấp dẫn với doanh nghiệp nước ngoài, song mức độ tràn vào của hàng hóa ngoại sẽ như thế nào thì còn do sự tính toán và cân nhắc của chính các doanh nghiệp nước ngoài, bởi không phải thị trường nào họ cũng sẵn sàng mạnh tay đầu tư. Nhưng rõ ràng thời gian tới hàng Việt sẽ phải đối mặt với sự cạnh tranh khốc liệt với hàng hóa ngoại, ở góc độ nào đó, đây cũng là cơ hội để các doanh nghiệp trong nước tự hoàn thiện mình, cải thiện chất lượng sản phẩm, mẫu mã, giá thành để từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh hơn.

PV: Xin cám ơn bà./.

PV