Nông sản sẽ có nhiều cơ hội mở rộng thị trường tại EU. Ảnh: C.A

Nhiều dư địa tăng trưởng

Theo nhận định của Bộ trưởng Bộ Công Thương Trần Tuấn Anh, EU là thị trường có kim ngạch nhập khẩu đứng thứ 2 thế giới, chiếm 14,9% tổng nhập khẩu toàn cầu. Mặc dù là thị trường xuất khẩu lớn thứ 2 của Việt Nam, nhưng hiện Việt Nam mới chiếm thị phần khoảng 2% tổng nhập khẩu của EU. Do vậy, Việt Nam đang có cơ hội để tăng trưởng xuất khẩu, đặc biệt là đối với nhóm hàng nông, lâm, thủy sản.

Với hiệp định EVFTA, sau khi được ký kết và có hiệu lực, nông lâm thủy sản xuất khẩu của Việt Nam sẽ có thể tiếp cận được một thị trường tiềm năng với dân số hơn 500 triệu người và GDP đạt 18.000 tỷ USD. Nhập khẩu các mặt hàng nông nghiệp hiện chiếm khoảng 8,4 % trong tổng nhập khẩu của EU. Như vậy, dư địa tăng trưởng xuất khẩu các mặt hàng nông lâm thủy sản để phục vụ tiêu thụ của thị trường này còn rất lớn.

Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và phát triển Nông thôn Nguyễn Xuân Cường đánh giá, với dân số 500 triệu người, sức mua về nông sản của thị trường EU hết sức lớn. Đặc biệt, khi đưa được hàng vào EU, hàng hóa của Việt Nam sẽ có được tín nhiệm để đến với các thị trường khó tính khác.

Thị trường này bình thường thuế rất cao nhưng nông sản của ta vẫn vào được, sắp tới khi EVFTA có hiệu lực, hầu hết dòng thuế về 0% sẽ tạo lợi thế mạnh mẽ hơn nữa. Không chỉ mang lại lợi thế về thương mại nông sản, mà EVFTA còn mở ra cơ hội thu hút đầu tư. “Không nơi nào có công nghệ chế biến, công nghệ đầu vào tốt như EU. Nếu có thêm tiềm lực này, ta có thể liên kết với EU để làm ra sản phẩm tốt hơn, rẻ hơn để đi ra thị trường thế giới”,  ông Cường nhấn mạnh.

Theo số liệu của Bộ Công Thương, trong 10 năm qua, xuất khẩu nông, lâm, thủy sản của Việt Nam sang EU tăng trưởng đều nhưng không cao so với Mỹ, Trung Quốc, đạt bình quân 6,7%/năm, từ 4,49 tỷ USD năm 2008 tăng lên 3,96 tỷ USD năm 2019. Việt Nam liên tục xuất siêu nông lâm thủy sản sang EU, năm 2019 xuất siêu 2,89 tỷ USD.

Các chuyên gia của châu Âu cũng nhận định nông sản Việt Nam là mặt hàng rất có tiềm năng xuất khẩu sang châu Âu. Hiện nay nhiều doanh nghiệp Việt Nam đã chứng minh được chất lượng sản phẩm đáp ứng yêu cầu của EU, phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng EU, nhiều sản phẩm Việt Nam được ưa chuộng tại châu Âu như hạt điều, cà phê, rau củ, thanh long, vải,… đặc biệt là các sản phẩm hữu cơ của Việt Nam đã bước đầu tiếp cận thị trường kỹ tính này khi đáp ứng được những tiêu chuẩn riêng cho mặt hàng nông sản chất lượng cao như chứng nhận Organic, Rainforest, Fairtrade…

Đặc biệt, EU cam kết bảo hộ 39 chỉ dẫn địa lý của Việt Nam liên quan tới nông sản, thực phẩm nổi tiếng có tiềm năng xuất khẩu cao như trà Mộc Châu, cà phê Buôn Ma Thuột, thanh long Bình Thuận… Đây đều là các mặt hàng mà Việt Nam có thế mạnh, do đó các doanh nghiệp Việt Nam vẫn nên tiếp tục tập trung sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm, quảng bá nhãn hiệu, marketing sản phẩm các mặt hàng này để có thể tận dụng được ưu đãi từ hiệp định EVFTA, đẩy mạnh xuất khẩu sang thị trường các nước EU.

Thách thức không nhỏ

Lợi ích từ EVFTA là rất lớn, nhưng đi kèm với đó cũng có nhiều thách thức. Ông Trần Thanh Hải, Phó Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu, Bộ Công Thương cho hay, khi thực thi EVFTA, mặt hàng gạo đứng trước yêu cầu khắt khe về chất lượng sản phẩm tới các tiêu chuẩn bảo vệ môi trường, uy tín của doanh nghiệp. Trong khi đó, thị trường EU đang ưa chuộng các sản phẩm gạo thơm của Thái, gạo Campuchia, Myanmar… Ngoài ra, EU cũng áp dụng hạn ngạch cho các chủng loại gạo đặc sản, hiện sản lượng và vùng trồng các loại gạo này cũng không lớn.

Đối với thủy sản, thách thức nằm ở việc khắc phục “thẻ vàng” đối với hải sản Việt Nam trong Chương trình chống khai thác bất hợp pháp, không khai báo và không theo quy định (IUU). EU cũng có những quy định chặt chẽ về lao động, môi trường. Ngoài ra, ông Hải cũng cho hay, mặc dù được xóa bỏ thuế quan, cạnh tranh thủy sản của Ấn Độ, Thái Lan sẽ vẫn còn quyết liệt.

Các sản phẩm đồ gỗ cũng đối mặt thách thức trong việc đảm bảo vận hành hệ thống đảm bảo gỗ hợp pháp Việt Nam: truy xuất nguồn gốc gỗ và xác minh gỗ hợp pháp; chất lượng và mẫu mã sản phẩm. Trong khi đó, nguồn gỗ nguyên liệu rừng trồng trong nước hạn chế và những thách thức trong phòng chống gian lận thương mại, gian lận xuất xứ.

Đối với cà phê, chất lượng chế biến chưa cao và phải chịu cạnh tranh với các thương hiệu nổi tiếng của thế giới như Nestle, Kraft Foods, Tchibo… Người tiêu dùng EU cũng chú trọng thương hiệu gắn với chất lượng chứ không phải chỉ là giá cả.

Do đó, để tận dụng hiệu quả các lợi ích từ Hiệp định EVFTA, trước tiên Việt Nam cần phải tạo nguồn hàng có chất lượng cho xuất khẩu, đáp ứng tiêu chí xuất xứ, thu hút đầu tư mở rộng sản xuất các mặt hàng mà ta có khả năng cạnh tranh nhưng thị phần ở thị trường đối tác EVFTA còn nhỏ. Đặc biệt, việc tái cơ cấu sản xuất nông nghiệp, tăng cường kiểm soát nguồn cung và định hướng sản xuất gắn với tín hiệu thị trường cần phải được quan tâm, chú trọng hơn nữa.

Để có thể khai thác tốt thị trường EU, Bộ trưởng Bộ Công Thương Trần Tuấn Anh đề nghị, thời gian tới các cơ quan liên quan cũng như các địa phương cùng phối hợp tiếp tục phổ biến về cơ chế, chính sách của Chính phủ, Bộ Công Thương, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và các bộ ngành liên quan đến xuất khẩu nông, lâm, thủy sản sang EU; kịp thời có hướng dẫn giải đáp về các quy định, tiêu chuẩn về chất lượng và an toàn sản phẩm của EU để các địa phương, các hiệp hội ngành hàng, các doanh nghiệp xuất  khẩu nông, lâm, thủy sản có kế hoạch kinh doanh phù hợp, đáp ứng yêu cầu của thị trường, qua đó nâng cao hiệu quả xuất khẩu trong thời gian tới.

Châu Anh

Bạn đang đọc bài viết Cơ hội và thách thức cho nông sản Việt tại thị trường EU tại chuyên mục Kinh tế của Tạp chí Điện tử Thương Trường. Mọi thông tin góp ý và chia sẻ, xin vui lòng liên hệ SĐT: 0913398394 hoặc gửi về hòm thư toasoanthuongtruong@gmail.com