Giai đoạn 2017-2018, lợi nhuận cao nên các hộ nuôi và doanh nghiệp tập trung tăng sản lượng cá tra, năm 2019 giá giảm khiến tiêu thụ cá tra khó khăn. Tuy nhiên, cuối năm 2019, Bộ Nông nghiệp Mỹ đã chính thức công bố quyết định công nhận tương đương hệ thống kiểm soát an toàn thực phẩm cá da trơn của Việt Nam mở ra những tín hiệu tích cực cho thị trường này.

Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP) cho biết: Năm 2019, xuất khẩu ước đạt gần 2 tỷ USD, giảm 11,7% so với năm 2018. Xuất khẩu cá tra sang thị trường Mỹ sụt giảm mạnh 49%, còn 282 triệu USD. Lý do bởi lượng tồn kho tại thị trường cao, nhu cầu nhập khẩu giảm, giá xuất khẩu trung bình bị ép xuống mức thấp hơn 30-35% so với năm 2018. Năm 2019, Mỹ chỉ còn chiếm 14% giá trị cá tra xuất khẩu của Việt Nam, tụt xa so với vị thế số 1 của Trung Quốc (chiếm trên 32%).

Ông Dương Nghĩa Quốc, Chủ tịch Hiệp hội Cá tra Việt Nam đánh giá: Lượng tiêu thụ cá tra ở thị trường Trung Quốc đã khởi sắc từ cuối năm 2019. Bước sang năm 2020, đặc biệt là dịp giáp Tết, nhu cầu ở thị trường này vẫn tiếp tục tăng.

Nhập khẩu cá thịt trắng của Trung Quốc tăng mạnh

Với những tín hiệu tích cực từ 2 thị trường Trung Quốc và Mỹ, dự báo xuất khẩu cá tra thời gian tới có thể tăng nhưng mức độ tăng chưa nhiều. Dù dự báo xuất khẩu cá tra khả quan hơn, song ông Quốc cũng nhấn mạnh áp lực cạnh tranh đặt ra cho ngành cá tra Việt ngày càng lớn.

Đó là bởi Trung Quốc đã bắt đầu nuôi được cá tra, thậm chí còn xuất khẩu. Ngoài ra, Trung Quốc cũng bắt đầu siết chặt hơn quản lý chất lượng và tiêu chuẩn cá tra, không còn là thị trường "dễ tính". Ngoài Trung Quốc, một số quốc gia như Ấn Độ, Thái Lan, Bangladesh, Indonesia... cũng đã nuôi được cá tra. Sản lượng của các nước này gộp lại gần bằng sản lượng cá tra Việt Nam.

Cũng theo Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP), 11 tháng đầu năm 2019, ước tính NK thủy sản đông lạnh của Trung Quốc tăng trên 71%, trong đó, NK sản phẩm cá thịt trắng tăng 119,8% so với cùng kỳ năm trước. Trong cơ cấu NK cá thịt trắng của nước này năm 2019, hầu hết giá trị NK đều tăng rất mạnh. Tính đến hết tháng 11/2019, sản phẩm cá Alaska pollock (HS 030367) chiếm tỷ lệ với nhất trong cơ cấu NK của nước này khi chiếm tới 43,8% tổng NK cá thịt trắng, tiếp đó là sản phẩm cá cod đông lạnh (HS 030363) chiếm 27,6%. Trong năm vừa qua, Trung Quốc NK chủ yếu sản phẩm cá Alaska pollock và cá cod từ Nga, Mỹ, Nauy và Greenland.

Từ trước tới nay, Trung Quốc vẫn vừa là thị trường NK vừa là thị trường XK sản phẩm cá thịt trắng lớn trên thế giới. Tính đến hết tháng 11/2019, tổng XK cá thịt trắng của nước này đạt trên 2 tỷ USD và tổng NK cũng đạt trên 1,78 tỷ USD, tăng hơn 119% so với cùng kỳ năm 2018. Nhu cầu NK cá thịt trắng của Trung Quốc trong năm 2019 rất lớn và tăng mạnh NK hầu hết nhóm sản phẩm.

Cá tra Việt Nam trong năm 2019 cũng đã tăng tỷ trọng trong tổng NK cá thịt trắng của Trung Quốc. Từ chiếm 15% trên tổng giá trị NK năm 2018 đã tăng lên hơn 20% tổng NK của nước này. Hiện nay, Mỹ vẫn tiếp tục coi Trung Quốc là thị trường tiềm năng để đẩy mạnh tiếp thị và marketing mạnh mẽ sản phẩm cá minh thái Alaska pollock. Theo Hiệp hội các nhà sản xuất Alaska Pollock Mỹ(GAPP), Trung Quốc vẫn được coi là điểm ngắm của nhiều DN sản xuất, XK cá thịt trắng của Mỹ trong năm 2020.

Theo ông Quốc, thời gian tới các doanh nghiệp cần đẩy mạnh khâu xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường, áp dụng công nghệ để nâng cao chất lượng.

Cạnh tranh gia tăng khi xuất khẩu, nhiều quan điểm cho rằng thúc đẩy tiêu thụ cá tra tại thị trường nội địa đầy tiềm năng là hướng đi khả thi cho ngành hàng này. Liên quan tới vấn đề này, ông Quốc nhìn nhận: Đây là hướng đi đúng đắn.

"Để phát triển ở thị trường trong nước, ngành cá tra cần có kênh phân phối mạnh. Nhà nước cần có những ưu đãi về thuế cho doanh nghiệp. Cùng với đó, doanh nghiệp cũng phải thúc đẩy hơn nữa khâu truyền thông, xúc tiến thương mại để người tiêu dùng ngày càng quen thuộc với mặt hàng cá tra", ông Quốc nhấn mạnh.

Ông Dương Nghĩa Quốc cho biết thêm: “Đặc thù của cá tra là càng quá lứa (vượt kích cỡ) càng khó bán hoặc bán với giá rất thấp, người nuôi khi đó càng lỗ nặng. Do đó, Hiệp hội Cá tra  kiến nghị Bộ NN&PTNT, Tổng cục Thủy sản đẩy mạnh xúc tiến thương mại đối với các thị trường truyền thống là Mỹ, Trung Quốc, đồng thời tìm cách tháo gỡ khó khăn để dòng hàng xuất khẩu cá tra khởi động trở lại”.

Do chưa có thương hiệu quốc gia nên cá tra Việt Nam chưa phát triển như kỳ vọng. Không ít lần cá tra rơi vào cảnh “khủng hoảng” trước những chiêu thức cạnh tranh không lành mạnh và bị kiện chống bán phá giá ở một số thị trường vì không có biện pháp phòng vệ.

Theo ông Như Văn Cẩn, Vụ trưởng Vụ Nuôi trồng Thủy sản (Tổng cục Thủy sản - Bộ NN& PTNT), thực tế, cá tra Việt Nam đã được rất nhiều người biết đến. Tuy nhiên, cá tra chưa tạo được sản phẩm cụ thể, hình ảnh tốt đẹp để người tiêu dùng tin tưởng tuyệt đối và sẵn sàng tiếp nhận sản phẩm tốt nhất.

Nguyên nhân là sản phẩm cá tra chưa tạo ra được giá trị khác biệt, phần lớn vẫn chỉ là sản phẩm đông lạnh (cá tra phi lê). Các sản phẩm thường bị ẩn danh dưới mác của nhà nhập khẩu, tên tuổi cá tra Việt Nam chưa đến được tận tay người tiêu dùng. Do đó, cần xây dựng thương hiệu cho cá tra Việt Nam.

Ông Cẩn cho rằng, xây dựng thương hiệu là vấn đề rất khó, nên bắt đầu từ bản chất của thương hiệu. Thương hiệu không đơn thuần là nhãn hiệu hàng hóa mà là sự tin tưởng, trung thành, chấp nhận... của người tiêu dùng đối với sản phẩm, dịch vụ cụ thể. Ở đây, cá tra là sản phẩm cụ thể và để xây dựng thương hiệu thì cần có kiến thức hiểu biết nhất định, có nội dung, nguồn lực đầu tư, xây dựng hình ảnh, tạo sự khác biệt, sự đồng thuận... Như vậy, thương hiệu là khái niệm tương đối trừu tượng, nó có trong tâm trí của người tiêu dùng, nhưng lại gắn với một sản phẩm cụ thể.

Lê An

Bạn đang đọc bài viết Nhiều tín hiệu tích cực từ sản phẩm cá da trơn tại chuyên mục Thương mại của Tạp chí Điện tử Thương Trường. Mọi thông tin góp ý và chia sẻ, xin vui lòng liên hệ SĐT: 0913398394 hoặc gửi về hòm thư [email protected]