Theo số liệu của Tổng cục Hải quan, tổng số ô tô nguyên chiếc các loại nhập khẩu từ đầu năm đến hết tháng 8/2019 tăng cao so với cùng kỳ năm ngoái với 96.000 chiếc, trị giá đạt 2,1 tỷ USD, tăng 229% về lượng và tăng 205,6% về trị giá so với cùng kỳ năm trước. Con số này đã vượt qua kim ngạch nhập khẩu ô tô cả năm 2018 với 81.787 chiếc.

Thái Lan tiếp tục dẫn đầu với 4.266 xe ô tô nguyên chiếc nhập về Việt Nam. Luỹ kế từ đầu năm đã có 56.792 xe được nhập về với kim ngạch nhập khẩu đạt hơn 1,1 tỷ USD. Như vậy, chỉ riêng Thái Lan đã chiếm tới hơn 50% cả về số lượng cũng như kim ngạch nhập khẩu ô tô nguyên chiếc vào Việt Nam từ đầu năm tới nay. Hàng loạt các mẫu xe có nguồn gốc Thái Lan đều đang dẫn đầu những phân khúc xe hơi ăn khách tại thị trường Việt Nam như: Ford Ranger, Honda CR-V, Toyota Camry, Mazda2 ....

Đứng sau Thái Lan về lượng xe nhập khẩu về Việt Nam tiếp tục là 1 quốc gia ASEAN khác là Indonesia. Sau 8 tháng đầu năm 2019, lượng xe nhập khẩu từ Indonesia đổ về nước tăng mạnh đạt 28.169 xe. Indonesia hiện đang là cường quốc ô tô giá rẻ của khu vực Đông Nam Á với hàng loạt những mẫu xe như Toyota Wigo, Honda Brio và đặc biệt là mẫu Mitsubishi Xpander.

Cục Công nghiệp (Bộ Công Thương) cho biết, nhập siêu ngành ô tô năm 2019 dự kiến sẽ đạt mức kỷ lục với hơn 3,4 tỷ USD. Kim ngạch nhập khẩu ô tô sẽ tiếp tục tăng trong thời gian tới, khi nhu cầu của người tiêu dùng ngày càng cao. Nhập siêu tăng cao, sẽ ảnh hưởng đến cán cân thương mại và ngành sản xuất ô tô trong nước.


Hiện tại hầu hết ô tô sản xuất lắp trong nước có tỷ lệ nội địa hóa từ 10-20%, vì vậy vẫn có thể chịu tác động do thuế tăng. Chỉ những mẫu xe có tỷ lệ nội địa hóa từ 40% trở lên mới được hưởng lợi nhiều, giá giảm. Tuy nhiên, để đạt được tỷ lệ nội địa hóa mức 40% trở lên không hề dễ dàng, phải mất nhiều thời gian.

Hiện tại, ngành sản xuất và lắp ráp xe hơi ở Việt Nam chỉ bằng khoảng 20% so với các nước trong khu vực về cả quy mô thị trường, trình độ kỹ thuật cũng như phát triển công nghiệp hỗ trợ. Ngành ô tô trong nước chủ yếu là lắp ráp đơn giản; công nghiệp hỗ trợ mới chỉ dừng ở sản xuất những linh kiện giản đơn, giá trị thấp. Do đó, phần nào xe sản xuất trong nước sẽ lép vế hơn so với xe nhập khẩu. 

Trên cơ sở dự báo, Cục Công nghiệp kiến nghị việc sớm ban hành các chính sách mới tập trung hỗ trợ để thúc đẩy nhanh công nghiệp ô tô; đồng thời nghiên cứu sửa đổi áp dụng mức thuế tiêu thụ đặc biệt đối với mặt hàng ô tô từ 9 chỗ ngồi trở xuống theo hướng không đánh thuế tiêu thụ đặc biệt đối với phần giá trị tạo ra trong nước, với thời hạn của chính sách là từ 5-10 năm.

Theo các doanh nghiệp, nếu áp dụng "giá tính thuế tiêu thụ đặc biệt với mặt hàng ôtô dưới 9 chỗ ngồi trở xuống sản xuất trong nước là giá do cơ sở sản xuất bán ra trừ đi giá trị linh kiện, phụ tùng sản xuất trong nước" thì chắc chắn các dòng xe lắp ráp sẽ có điều kiện để giảm giá.

Tốc độ tăng trưởng trung bình xe sản xuất lắp ráp trong nước giai đoạn 2015-2018 đạt 10%. Năm 2015, sản lượng sản xuất, lắp ráp xe ô tô trong nước đạt trên 200 nghìn xe/năm, tốc độ tăng so với 2014 đạt 51%. Năm 2016, sản lượng tiếp tục tăng mạnh, đạt trên 283,3 nghìn xe/năm, tăng 38% so với năm 2015. Năm 2017, sản lượng sản xuất, lắp ráp đạt 258,7 ngàn xe, giảm 9% so với năm 2016; năm 2018 đạt 250 ngàn xe, giảm khoảng 3% so với năm 2017.

Những số liệu này cho thấy những triển vọng của nền công nghiệp ô tô trong nước. Nếu tiếp tục được đầu tư đúng hướng nền công nghiệp ô tô Việt Nam vẫn sẽ có chỗ đứng trong khu vực.

Ngọc Duy (T/H)

Bạn đang đọc bài viết Ô tô lắp ráp trong nước tiếp tục lép vế trước xe nhập từ Thái Lan tại chuyên mục Thương mại của Tạp chí Điện tử Thương Trường. Mọi thông tin góp ý và chia sẻ, xin vui lòng liên hệ SĐT: 0913398394 hoặc gửi về hòm thư [email protected]