Được biết, Quy hoạch phát triển công nghiệp xi măng Việt Nam, giai đoạn 2011-2020 và định hướng đến năm 2030 (được Thủ tướng phê duyệt tại Quyết định 1488/QĐ-TTg ngày 29.8.2011 quy định việc chuyển đổi công nghệ sản xuất xi măng từ lò đứng sang lò quay trước năm 2015), Sở Xây dựng tỉnh đã triển khai quy định của Thủ tướng đến các DN.

Trong đó bao gồm: Công ty CP Xi măng Trung Hải, Công ty CP Xi măng Duyên Linh, Công ty Sản xuất VLXD Thành Công II, Công ty TNHH Cường Thịnh, Công ty TNHH Phú Tân). Các DN này đã nắm được chỉ đạo của Thủ tướng, và cam kết sẽ chuyển đổi công nghệ từ lò đứng sang lò quay theo quy định, đồng thời kiến nghị Nhà nước có cơ chế hỗ trợ khi chuyển đổi.

UBND tỉnh Hải Dương cho biết, thời điểm năm 2017, khi kiểm tra, rà soát để xây dựng điều chỉnh quy hoạch phát triển VLXD tỉnh đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 (được phê duyệt tại Quyết định 2945/QĐ-UBND ngày 29.9.2017), địa bàn tỉnh có 4 cơ sở sản xuất xi măng lò quay, 4 cơ sở sản xuất xi măng lò đứng (công ty TNHH Cường Thịnh thực hiện chuyển đổi sang công nghệ lò quay từ năm 2016), 5 trạm nghiền. Các dự án này được cấp phép và đi vào hoạt động từ trước năm 2010.

Tới tháng 5.2019, UBND tỉnh thông tin, Công ty CP Xi măng Duyên Linh chỉ còn hoạt động nghiền clinker; 2 công ty không còn sản xuất xi măng theo công nghệ lò đứng mà chuyển sang lĩnh vực khác (là Công ty Sản xuất VLXD Thành Công II – sản xuất bê tông thương phẩm; và Công ty TNHH Phú Tân – sản xuất tấm PVC hỗn hợp). Đồng thời, tỉnh Hải Dương chỉ còn 1 cơ sở sản xuất xi măng theo công nghệ lò đứng là Công ty CP Xi măng Trung Hải – do có khó khăn về tài chính trong thực hiện chuyển đổi.

Đáng chú ý, theo UBND tỉnh nhận định, Quyết định 1488/QĐ-TTg của Thủ tướng không có hướng dẫn cụ thể về cơ chế hỗ trợ cho các DN chuyển đổi và chế tài xử lý đối với các DN không thực hiện việc chuyển đổi. Nội dung này, UBND tỉnh đã báo cáo Bộ Xây dựng tại buổi làm việc với Đoàn kiểm tra của Bộ Xây dựng về công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực VLXD trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2016-2018 và Bộ Xây dựng cũng ghi nhận thực trạng đó.

Do vậy, UBND tỉnh kết luận, thực tế việc chuyển đổi công nghệ của các DN sản xuất xi măng lò đứng trên địa bàn tỉnh tùy thuộc vào tình hình tài chính cũng như chiến lược kinh doanh của các DN.

Trong một diễn biến khác, người dân tại huyện Kinh Môn kiến nghị tỉnh kiểm tra tiến độ thực hiện dự án tại khu vực Núi Cúc Tiên (đã cấp phép cho Công ty Xi măng Hoàng Thạch quản lý, khai thác nhưng thực tế đến nay vẫn chưa triển khai).

Theo đó, Công ty TNHH MTV Xi măng Vicem Hoàng Thạch (Công ty Xi măng Hoàng Thạch) được Bộ TN&MT cấp phép khai thác khoáng sản vào tháng 5.2015 - cho phép khai thác đá sét làm nguyên liệu xi măng tại mỏ đá sét Cúc Tiên (xã Duy Tân và Tân Dân), diện tích 68 ha, thời hạn khai thác 30 năm, trong đó có 1 năm xây dựng cơ bản mỏ.

Công ty này đã được tỉnh phê duyệt báo cáo ĐTM, đã thực hiện ký quỹ, nộp tiền cấp quyền khai thác khoáng sản, đã hoàn thiện hồ sơ trích lục bản đồ để triển khai bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cho dự án. Tuy nhiên, do việc tái cơ cấu của Công ty, có thay đổi nhân sự nên phải kiện toàn Hội đồng bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và tổ công tác giúp việc. Bên cạnh đó, do năm 2016 huyện Kinh Môn tập trung kiếm đếm đền bù cho các dự án trọng điểm nên đến 11.10.2017 Tổ công tác giúp việc mới bắt đầu triển khai kiểm đếm…

Tỉnh xác định, việc Công ty Xi măng Hoàng Thạch chậm xây dựng cơ bản mỏ đối với mỏ đá sét Cục Tiên là do: Công tác đền bù GPMB gặp nhiều khó khăn, chậm; chi phí đền bù GPMB phát sinh lớn trong khi nguồn dự phòng trong tổng mức đầu tư được duyệt không đủ chi trả nên phải lập điều chỉnh dự án theo quy định.

Thái Bình

Bạn đang đọc bài viết Vì sao Hải Dương vẫn tồn tại nhiều nhà máy xi măng lò đứng? tại chuyên mục Kinh tế của Tạp chí Điện tử Thương Trường. Mọi thông tin góp ý và chia sẻ, xin vui lòng liên hệ SĐT: 0913398394 hoặc gửi về hòm thư [email protected]