“Việc dần mở cửa trở lại sẽ có những ngành bật tăng mạnh mẽ”

TS Lê Xuân Sang - Phó Viện trưởng Viện kinh tế Việt Nam nhận định, trước khi dịch bùng phát lần thứ 4 thì Việt Nam là "ngôi sao sáng trên bầu trời" như "chàng thanh niên khỏe mạnh" chỉ bị tác động bởi cú sốc bên ngoài khiến sức chống chịu bị yếu đi. Vì vậy, khi có đủ sức khỏe dịch tễ, việc dần mở cửa trở lại sẽ có những ngành bật tăng mạnh mẽ trở lại.

TS Lê Xuân Sang - Phó Viện trưởng Viện kinh tế Việt Nam đã có những chia sẻ với Phóng viên về những vấn đề liên quan đến việc mở cửa nền kinh tế cũng như sức khỏe của doanh nghiệp để chuẩn bị hoạt động trong trạng thái bình thường mới.

“Việc dần mở cửa trở lại sẽ có những ngành bật tăng mạnh mẽ”
TS Lê Xuân Sang - Phó Viện trưởng Viện kinh tế Việt Nam 

Thưa ông, sau 2 năm chống chọi với đại dịch Covid-19, phần nhiều doanh nghiệp đã kiệt sức. Việc mở cửa trở lại nền kinh tế sau nhiều tháng giãn cách xã hội được nhiều ý kiến đồng tình. Tuy nhiên, lo ngại lớn nhất vẫn là sức khỏe doanh nghiệp. Ông đánh giá thế nào về vấn đề này?

Lâu nay, chúng ta đã khá kiên định trong đạt mục tiêu kép, nhấn mạnh Chiến lược Không Covid. Trong 3 đợt dịch trước chúng ta đã đạt được rất nhiều thành tựu đáng ghi nhận về chống dịch và duy trì tăng trưởng kinh tế. Chính kỳ tích này giúp chúng ta hưởng lợi trong thu hút FDI và thúc đẩy ngoại thương.

Tuy nhiên, thời điểm này (đợt dịch thứ 4), lòng tin về một nền kinh tế không Covid đang bị lung lay mạnh, do biến chủng Delta lây lan rất nhanh, trên diện rộng, gây nhiều tác động tiêu cực.
Các nước theo đuổi chiến lược này như Trung Quốc, New Zeland vừa qua cũng bị biến chủng Delta bùng phát trở lại. Một số nền kinh tế có tỷ lệ tiêm chủng tương đối cao và mở cửa trở lại nền kinh tế như Singapore, New York (Mỹ) cũng đã bị dịch bệnh "quật" ngược. 

Như vậy, thực tiễn chống dịch và bản chất dịch tễ cho thấy rất khó, thậm chí không thể "tìm và diệt" được Covid và "nhốt" chúng hoàn toàn trong dài hạn và phải chấp nhận sống chung với nó, từng bước mở cửa trở lại nền kinh tế. 

Đối với nước ta, vấn đề thực thi cũng đáng quan tâm. Nhiều khi, tuy cấp trên có chủ trương nới lỏng kiểm soát/mở cửa nền kinh tế nhưng ở dưới lại kiểm soát chặt, chủ yếu do hướng dẫn thực thi hoặc chưa có hoặc bất cập nên việc phòng chống, nới lỏng kinh tế thiếu hiệu quả. 

Hơn nữa, vẫn còn những lo ngại về sinh mạng chính trị của quan chức địa phương, người thực thi nếu việc phòng, chống Covid yếu kém.

Theo nghiên cứu chuyên sâu của tôi thì đại dịch có tác động tiêu cực rất lớn về lượng, nhất là những ngành về bản chất là ngành có sự tiếp xúc gần giữa người với người (sử dụng nhiều lao động phổ thông) cũng như các doanh nghiệp có sức cạnh tranh, sức chống chịu thấp. Số lượng doanh nghiệp như vậy ở Việt Nam là số đông.

Tuy vậy, đại dịch có tác động tích cực tới những ngành phục vụ phòng chống bệnh dịch, nhất là những ngành ít có/không có tiếp xúc giữa con người với nhau, nhất là những doanh nghiệp số cũng như kịp thời chuyển đổi số.

Thực tế, cuộc khủng hoảng vì Covid-19 tác động nhiều chiều, vừa tiêu cực lẫn tích cực đối với nhiều ngành nghề, chứ không phải như những cuộc khủng hoảng tài chính trước khiến các doanh nghiệp "chết" đồng loạt.

Trước khi dịch bùng phát lần thứ 4 thì Việt Nam là "ngôi sao sáng trên bầu trời" như "chàng thanh niên khỏe mạnh" chỉ bị tác động bởi cú sốc bên ngoài khiến sức chống chịu bị yếu đi. Vì vậy, khi có đủ sức khỏe dịch tễ, việc dần mở cửa trở lại sẽ có những ngành như ăn uống, du lịch, hàng không,… thì họ lại bật tăng mạnh mẽ trở lại, thậm chí một số doanh nghiệp có sức chống chịu tốt thậm chí có thể không cần nhà nước hỗ trợ nhiều. Thực tiễn hiệu ứng bật lò xo của nhiều doanh nghiệp Trung Quốc, Ấn Độ Mỹ cho thấy điều này.

Đối với doanh nghiệp FDI, theo nhận định của ông, chúng ta có nên lo ngại dòng vốn FDI rút khỏi Việt Nam nếu tình hình dịch bệnh tiếp tục căng thẳng, việc mở cửa nền kinh tế diễn ra quá thận trọng?

Chúng ta kiểm soát dịch bệnh là vì lợi ích chung, cho cả doanh nghiệp trong nước và ngoài nước và cả cộng đồng. Đối với các doanh nghiệp có vốn nước ngoài hoạt động tại Việt Nam, so với nhiều nước, lâu nay đều được Chính phủ cố gắng tạo điều kiện thuận lợi, do đó khi đại dịch bùng phát buộc chúng ta phải "đóng cửa" đã khiến họ sốt ruột là điều dễ hiểu.

Nhưng trước hết cần phải thấy việc kiểm soát dịch bệnh chặt chẽ thời gian qua đã mang lại điều tốt cho người dân, doanh nghiệp nói chung và cho chính cho doanh nghiệp FDI nói riêng.

Rõ ràng chúng ta không làm khó cho riêng họ mà đó là cái khó chung. Hơn nữa, việc tác động của các chính sách kiểm soát dịch bệnh tới doanh nghiệp là có nhưng không phải là quá lớn và đối với số đông doanh nghiệp theo ngành nghề và vùng lãnh thổ.

“Việc dần mở cửa trở lại sẽ có những ngành bật tăng mạnh mẽ”
Nhiều doanh nghiệp đã sẵn sàng để trở lại hoạt động bình thường mới. Ảnh minh họa

Đối với việc một số doanh nghiệp FDI có thể không chịu nổi áp lực phải đóng cửa dài ngày nên phải dừng ý định đầu tư vào Việt Nam hay di chuyển (một phần, toàn bộ) dòng vốn khỏi Việt Nam, theo tôi chúng ta cần phải có những đánh giá chuyên sâu, toàn diện và cụ thể. Chúng ta cần phải hiểu, mục đích, động lực doanh nghiệp FDI đầu tư vào nước ta là gì?

Thực tế, những nhà đầu tư này đến Việt Nam với những mục tiêu cụ thể và đã xem xét kĩ lưỡng (chiến lược dài hạn), giờ nếu họ chuyển đi thì chuyển đi đâu? Những thị trường khác dịch bệnh còn phức tạp hơn cả Việt Nam, chưa kể cái quan trọng là chúng ta ngay sát Trung Quốc – một thị trường quá rộng lớn.

Một điểm khác tạo nên sức hấp dẫn của Việt Nam hơn cả "đối thủ" khác trong khu vực như Ấn Độ, Indonesia, Malaisia là Việt Nam là thành viên của nhiều Hiệp định thương mại tự do hấp dẫn nhất thế giới.

Với các hiệp định FTA thế hệ mới như CPTPP hay hiệp định EVFTA, đây mới là "bàn đạp" để có thể vươn ra các thị trường lớn toàn cầu mà các nước kể trên không có. Việc gần kề với Trung Quốc là một lợi thế địa kinh tế của Việt Nam. Trong khi đó, xét tổng thể, các nước trên cũng chỉ có môi trường kinh doanh có độ hấp dẫn tương đương nước ta.

Các FDI đã đầu tư vào Việt Nam là đã đầu tư rất lớn (còn gọi là đầu tư chìm), cùng với các lực lượng lao động đã được đào tạo, mối quan hệ kinh doanh trong nước và quốc tế được thiết lập nên sẽ không dễ dàng rút ra và có đáng để rút ra.

Hơn nữa, họ sẽ chuyển đi đâu khi các đối thủ nói trên chưa từng và chưa chứng minh được họ kiểm soát tốt, bền vững đại dịch hơn Việt Nam.

Theo ông đâu là động lực để cải thiện tăng trưởng GDP trong quý cuối cùng của năm nay?

Từ đầu nhiệm kỳ, chúng ta đưa ra mục tiêu tăng trưởng là 6,5%, đây là mục tiêu quá cao trong bối cảnh dịch bệnh bùng phát mạnh trở lại. 

Tuy nhiên, theo đánh giá chúng hiện tình hình khó khăn tuy nhiên dự báo tăng trưởng sẽ không quá ảm đạm nếu kiểm soát được hữu hiệu dịch bệnh và mở cửa hữu hiệu nền kinh tế.

Cái chúng ta đang gặp khó nhất chính là có đủ, kịp thời vaccine để tiêm chủng ngừa Covid-19 cho cộng đồng. Mặc dù Việt Nam đã có rất nhiều nỗ lực trong ngoại giao vaccine và đã đạt được kết quả tốt, nhưng để có đủ lượng vaccine phủ rộng trong toàn dân vẫn chưa thể cao như nhiều nước.

Như đã nêu, bản chất của cuộc khủng hoảng lần này là khủng hoảng y tế và từ đó ảnh hưởng sang nền kinh tế. Do vậy, việc kiểm soát dịch bệnh đi liền với mở cửa hữu hiệu (không để lây nhiễm ở mức nguy hiểm) là vấn đề hết sức quan trọng mang tính quyết định đối với tăng trưởng kinh tế trong năm và trung hạn.

Động lực trên thực tế cho tăng trưởng GDP phụ thuộc nhiều vào yếu tố bên trong nước và quốc tế và việc thực thi các chính sách hiện hữu của Chính phủ. 

Nếu dịch bệnh được kiểm soát tốt hơn ở các nước đối tác kinh tế quan trọng Việt Nam và các ách tắc về logistics toàn cầu được giải tỏa, động lực xuất khẩu của Việt Nam sẽ tăng mạnh, giúp thu hẹp thâm hụt thương mại, thậm chí trở lại thăng dư; đồng thời thúc đẩy đầu tư công.

Nội tại nền kinh tế Việt Nam, khi kiểm soát bệnh dịch ổn định hơn và mở cửa hữu hiệu, các động lực quan trọng đó là tăng trưởng các ngành dịch vụ, chế biến chế tạo, đầu tư toàn xã hội (nhất là FDI và đầu tư công), xuất khẩu và cải thiện cầu tiêu dùng cá nhân.

Xin cảm ơn ông!

Minh Nguyễn

Bình luận bài viết

Ông Đào Minh Tú, Phó thống đốc Ngân hàng Nhà nước cho biết, rất nhiều áp lực đang dồn lên ngành ngân hàng, như phải bơm tín dụng, hạ lãi suất, song phải kiểm soát được lạm phát...

Trao đổi với PV Thương Trường nhân ngày Doanh nhân Việt Nam (13/10), Tiến sĩ Đinh Việt Hòa - Chủ tịch Hiệp hội Khởi nghiệp Quốc gia có đánh giá, nhận định những xu hướng kinh doanh, khởi nghiệp sau đại dịch Covid – 19.

TS Võ Trí Thành nhận định, gói hỗ trợ của Chính phủ đúng nhưng chưa trúng; triển khai rất chậm, hiệu quả thấp hơn nhiều so với kỳ vọng. Trong đó có nguyên nhân như quá cầu toàn, "sợ" trách nhiệm của cán bộ thực hiện.

Những tư tưởng cục bộ địa phương đã ngăn dòng chảy của các chuỗi cung ứng. Điều này làm cho hàng hóa, đặc biệt là hàng nông sản, thực phẩm bị ứ đọng, không tiêu thụ được, giá cả sụt giảm dẫn tới bị thua lỗ, thậm chí phá sản.

Tại buổi toạ đàm “Điều kiện mở lại các chuyến bay an toàn” do Báo Giao thông tổ chức ngày 8/10, các chuyên gia hàng không, y tế, đại diện các hãng hàng không và địa phương… đã hiến nhiều kế sách để tiến tới mở lại các đường bay nội địa một cách an toàn và hiệu quả.

ThuongTruong

Cơ quan chủ quản: HIỆP HỘI CÁC NHÀ BÁN LẺ VIỆT NAM

Giấy phép hoạt động báo chí điện tử số 75/GP-BTTT, do Bộ Thông tin & Truyền thông cấp ngày: 23/02/2017

Ngày thành lập Tạp chí Thương Trường: Ngày 26 tháng 6 năm 2008

Tòa soạn: Tầng 6 tòa nhà số 8 Trần Đăng Ninh - P. Dịch vọng - Q. Cầu Giấy - Hà Nội

Tổng Biên tập: Đinh Thị Mỹ Vân

Phụ trách nội dung: Tổng TKTS Đinh Duy Hùng

Chung nhan Tin Nhiem Mang

Hotline: 0913398394

Điện thoại: +84 24 3734 9773

Fax: +84 24 3939 3770

Email: toasoanthuongtruong@gmail.com.

Liên hệ quảng cáo: 0888484455