Thị trường nông sản ngày 24/7 ghi nhận diễn biến trái chiều. Giá cà phê trong nước tiếp tục giảm phiên thứ hai liên tiếp, xuống còn 95.900 - 96.500 đồng/kg; giá hồ tiêu duy trì ổn định tại các vùng nguyên liệu trọng điểm, trong khi thị trường lúa gạo nhìn chung ít biến động, chỉ riêng giá bán lẻ gạo Jasmine tăng thêm 1.000 đồng/kg.
Giá cà phê trong nước tiếp tục giảm
Khảo sát sáng 24/7 cho thấy giá cà phê tại khu vực Tây Nguyên tiếp tục điều chỉnh giảm từ 200 - 500 đồng/kg so với phiên trước, đánh dấu phiên giảm thứ hai liên tiếp.
Hiện giá thu mua phổ biến dao động trong khoảng 95.900 - 96.500 đồng/kg. Trong đó, Lâm Đồng giảm mạnh nhất 500 đồng/kg, xuống còn 95.900 đồng/kg - mức thấp nhất khu vực.
Tại Đắk Lắk, giá cà phê giảm 200 đồng/kg, còn 96.400 đồng/kg. Gia Lai giảm 400 đồng/kg, xuống còn 96.400 đồng/kg. Đắk Nông (nay thuộc Lâm Đồng) giảm 300 đồng/kg, còn 96.500 đồng/kg và tiếp tục là địa phương có mức giá thu mua cao nhất Tây Nguyên.
Trên thị trường quốc tế, giá cà phê tiếp tục giảm trên cả hai sàn giao dịch chủ chốt.
Tại sàn London, hợp đồng robusta giao tháng 9/2026 giảm 22 USD/tấn (0,58%), xuống còn 3.796 USD/tấn; hợp đồng giao tháng 11/2026 giảm 38 USD/tấn (1%), còn 3.761 USD/tấn.
Trên sàn New York, giá arabica giao tháng 9/2026 giảm 5,45 US cent/pound (1,69%), xuống 316,65 US cent/pound. Hợp đồng giao tháng 12/2026 giảm 4,2 US cent/pound (1,36%), còn 303,7 US cent/pound.
Giá cà phê tiếp tục chịu áp lực khi các dự báo thời tiết cho thấy nhiều vùng trồng cà phê của Brazil sẽ duy trì điều kiện khô ráo trong tuần tới, tạo thuận lợi cho quá trình thu hoạch và làm giảm bớt lo ngại về nguồn cung. Bên cạnh đó, lượng tồn kho robusta tăng trở lại cũng góp phần gây sức ép lên thị trường.
Hồ tiêu trong nước đi ngang, giá tiêu Indonesia tăng trở lại
Khảo sát sáng 24/7 cho thấy thị trường hồ tiêu trong nước tiếp tục duy trì trạng thái ổn định. Giá thu mua tại các vùng nguyên liệu trọng điểm dao động trong khoảng 137.000 - 140.500 đồng/kg, không thay đổi so với phiên trước.
Trong đó, Đắk Nông (tỉnh Lâm Đồng) tiếp tục là địa phương có mức giá cao nhất cả nước với 140.500 đồng/kg, tiếp đến là Đắk Lắk ở mức 140.000 đồng/kg.
Tại Bà Rịa - Vũng Tàu (TP. Hồ Chí Minh), hồ tiêu được thu mua ở mức 137.500 đồng/kg, còn Đồng Nai và Gia Lai cùng duy trì mức 137.000 đồng/kg.
Trên thị trường thế giới, theo số liệu mới nhất từ Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế (IPC), giá hồ tiêu ghi nhận diễn biến trái chiều giữa các quốc gia sản xuất.
Cụ thể, tiêu đen Indonesia tăng 50 USD/tấn (0,74%), lên 6.823 USD/tấn. Ngược lại, tiêu đen Brazil loại ASTA giảm thêm 100 USD/tấn (1,72%), xuống còn 5.700 USD/tấn - mức thấp nhất trong nhóm các nước xuất khẩu lớn.
Tiêu đen Malaysia giữ ổn định ở mức 9.300 USD/tấn. Đối với Việt Nam, giá chào bán tiêu đen xuất khẩu loại 500 g/l và 550 g/l tiếp tục duy trì lần lượt ở mức 5.970 USD/tấn và 6.050 USD/tấn.
Ở phân khúc tiêu trắng, tiêu trắng Muntok của Indonesia tăng 68 USD/tấn (0,73%), lên 9.404 USD/tấn. Trong khi đó, tiêu trắng Việt Nam và Malaysia tiếp tục giữ nguyên ở mức 12.200 USD/tấn và 8.250 USD/tấn.
Giá lúa gạo ít biến động, gạo Jasmine bán lẻ tăng 1.000 đồng/kg
Thị trường lúa gạo khu vực Đồng bằng sông Cửu Long ngày 24/7 nhìn chung ổn định, hầu hết các mặt hàng không ghi nhận biến động. Riêng giá bán lẻ gạo Jasmine tăng thêm 1.000 đồng/kg so với phiên trước.
Theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, giá gạo nguyên liệu xuất khẩu IR 504 dao động ở mức 9.500 - 9.600 đồng/kg; gạo nguyên liệu CL 555 đạt 9.700 - 9.800 đồng/kg; OM 5451 ở mức 9.300 - 9.400 đồng/kg; OM 18 từ 8.700 - 8.850 đồng/kg; Đài Thơm 8 từ 9.200 - 9.400 đồng/kg; OM 380 và Sóc thơm cùng dao động 7.500 - 7.600 đồng/kg.
Đối với phụ phẩm, tấm thơm có giá 8.300 - 8.400 đồng/kg, cám ở mức 7.900 - 8.050 đồng/kg.
Tại các chợ lẻ, giá gạo thơm Jasmine tăng lên 17.000 - 18.000 đồng/kg. Các mặt hàng khác giữ ổn định như gạo Nàng Nhen 28.000 đồng/kg, Hương Lài 22.000 đồng/kg, gạo thơm Thái hạt dài 20.000 - 22.000 đồng/kg, Nàng Hoa 21.000 đồng/kg, Đài Thơm 15.000 - 15.500 đồng/kg, gạo trắng thông dụng 16.000 đồng/kg, gạo thường 13.000 - 14.000 đồng/kg, gạo Sóc thường 15.000 - 16.000 đồng/kg, gạo Sóc Thái 20.000 đồng/kg và gạo Nhật 22.000 đồng/kg.
Phân khúc nếp không ghi nhận biến động, với nếp IR 4625 tươi ở mức 7.300 - 7.500 đồng/kg và nếp khô 3 tháng ở mức 9.600 - 9.700 đồng/kg.
Đối với lúa, giá lúa tươi Đài Thơm 8 dao động 6.850 - 7.000 đồng/kg; OM 5451 ở mức 6.200 - 6.400 đồng/kg; OM 18 từ 6.800 - 7.000 đồng/kg; OM 34 ở mức 6.100 - 6.300 đồng/kg và IR 50404 từ 6.100 - 6.200 đồng/kg.
Theo ghi nhận tại các địa phương, giao dịch lúa mới diễn ra chậm, thương lái có xu hướng cho giá giảm. Tại An Giang, nhu cầu đầu tuần ở mức khá, giao dịch mua bán khởi sắc hơn và giá lúa tươi giữ vững. Tại Đồng Tháp, giá lúa có xu hướng giảm, thương lái hỏi mua ít. Trong khi đó, tại Cần Thơ, Cà Mau, Vĩnh Long và Tây Ninh, nông dân tiếp tục neo giá cao, lượng thương lái hỏi mua mới còn hạn chế, giá lúa các loại tương đối ổn định.
Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo xuất khẩu Việt Nam đứng giá so với hôm qua. Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam, gạo Jasmine được chào bán ở mức 546 - 550 USD/tấn; gạo thơm 5% tấm ở mức 500 - 510 USD/tấn; gạo thơm 100% tấm dao động 353 - 357 USD/tấn.
Trong khi đó, trên thị trường thế giới, gạo 5% tấm của Thái Lan dao động 445 - 449 USD/tấn, gạo 100% tấm ở mức 390 - 394 USD/tấn. Tại Ấn Độ, gạo 5% tấm được giao dịch trong khoảng 361 - 365 USD/tấn và gạo 100% tấm ở mức 290 - 294 USD/tấn.
Trung Anh