Tổng vụ Phòng vệ thương mại Ấn Độ (DGTR) kiến nghị áp thuế chống trợ cấp từ 9,11 - 22,52 USD/tấn đối với các doanh nghiệp Việt Nam hợp tác đầy đủ trong quá trình điều tra và lên tới 69,19 USD/tấn đối với các doanh nghiệp khác. Nếu được Bộ Tài chính Ấn Độ phê duyệt, biện pháp này sẽ có hiệu lực trong 5 năm.
9/13 chương trình hỗ trợ bị xác định là trợ cấp có thể đối kháng
Theo thông tin từ Cục Phòng vệ thương mại (Bộ Công Thương), DGTR đã ban hành Kết luận cuối cùng trong vụ điều tra chống trợ cấp đối với sản phẩm chất độn nhựa (Calcium Carbonate Filler Masterbatch) nhập khẩu từ hoặc có xuất xứ Việt Nam. Vụ việc được khởi xướng trên cơ sở đơn khiếu nại của Hiệp hội các nhà sản xuất Hợp chất và Masterbatch Ấn Độ.
Sản phẩm bị điều tra là chất độn nhựa (Calcium Carbonate Filler Masterbatch), chủ yếu được phân loại theo mã HS 3824.99.00.
Ảnh minh hoạ.
Theo cơ quan điều tra, thời kỳ điều tra trợ cấp kéo dài từ ngày 1/4/2023 đến ngày 30/6/2024. Thời kỳ xem xét thiệt hại bao gồm các năm tài chính từ ngày 1/4/2020 đến ngày 31/3/2023 và trùng với thời kỳ điều tra trợ cấp.
Ban đầu, phía Ấn Độ xem xét 13 chương trình hỗ trợ thuộc 6 nhóm chính, gồm: ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp và hoàn thuế nhập khẩu nguyên liệu; cho vay ưu đãi và bảo lãnh tín dụng; xúc tiến xuất khẩu; cung cấp nguyên, nhiên liệu với giá thấp hơn thị trường; miễn, giảm tiền thuê đất, thuê mặt nước; cùng các cơ chế hỗ trợ nhà đầu tư nước ngoài và phát triển ngành nhựa.
Trong Kết luận cuối cùng, DGTR xác định 9/13 chương trình bị điều tra là các khoản trợ cấp có thể đối kháng và đã được doanh nghiệp Việt Nam thụ hưởng trong giai đoạn điều tra. Các chương trình này gồm: cung cấp đá vôi với giá thấp hơn giá trị thông thường; miễn, giảm tiền thuê đất và thuê mặt nước; ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp; cùng nhóm các chương trình cho vay ưu đãi và tín dụng xuất khẩu.
Ở chiều ngược lại, DGTR kết luận doanh nghiệp Việt Nam không nhận được lợi ích từ chương trình miễn thuế nhập khẩu nguyên liệu, máy móc thiết bị phục vụ sản xuất hàng xuất khẩu và chương trình xúc tiến xuất khẩu trong giai đoạn điều tra.
Đồng thời, chương trình ưu đãi theo Quy hoạch phát triển ngành nhựa Việt Nam cũng được xác định không mang lại lợi ích, trong khi chương trình cung cấp khí ga, điện và than với giá thấp hơn giá thông thường chưa được DGTR đưa ra kết luận về tính đối kháng.
Kiến nghị áp thuế tối đa 69,19 USD/tấn trong 5 năm
Trên cơ sở kết quả điều tra về mức độ trợ cấp và thiệt hại đối với ngành sản xuất trong nước, DGTR kiến nghị Bộ Tài chính Ấn Độ áp dụng thuế chống trợ cấp đối với sản phẩm chất độn nhựa của Việt Nam. Mức thuế đề xuất dao động từ 9,11 - 22,52 USD/tấn đối với các doanh nghiệp sản xuất, xuất khẩu hợp tác đầy đủ trong quá trình điều tra, trong khi các doanh nghiệp khác có thể chịu mức thuế lên tới 69,19 USD/tấn.
Bên cạnh mức thuế tuyệt đối tính theo USD/tấn, DGTR cũng xác định mức thuế theo tỷ lệ phần trăm đối với từng doanh nghiệp và gửi thông báo bảo mật riêng cho các đơn vị liên quan.
Đáng chú ý, để được hưởng mức thuế riêng, doanh nghiệp xuất khẩu khi làm thủ tục hải quan tại Ấn Độ phải xuất trình hóa đơn thương mại hợp lệ kèm xác nhận của nhà sản xuất theo đúng mẫu do DGTR quy định. Nếu không đáp ứng đầy đủ yêu cầu về chứng từ, lô hàng sẽ bị áp mức thuế chung 69,19 USD/tấn dành cho các doanh nghiệp không hợp tác.
Theo quy định của Ấn Độ, Bộ Tài chính nước này sẽ xem xét kiến nghị của DGTR trước khi ban hành quyết định áp thuế chính thức. Nếu được thông qua, biện pháp chống trợ cấp sẽ có hiệu lực trong thời hạn 5 năm. Các bên liên quan vẫn có quyền kháng nghị lên Tòa Phúc thẩm Thuế quan, Thuế tiêu thụ đặc biệt và Thuế dịch vụ (CESTAT) của Ấn Độ nếu không đồng ý với kết luận điều tra.
Trước diễn biến trên, Cục Phòng vệ thương mại khuyến nghị các doanh nghiệp sản xuất, xuất khẩu chất độn nhựa cần nghiên cứu kỹ Kết luận cuối cùng của DGTR, phối hợp với đơn vị tư vấn pháp lý để chuẩn bị phương án kháng nghị nếu có căn cứ.
Bên cạnh đó, doanh nghiệp cần chủ động đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, giảm phụ thuộc vào một thị trường duy nhất nhằm hạn chế rủi ro từ các biện pháp phòng vệ thương mại. Đồng thời, cần theo dõi quy định về các kỳ rà soát giữa kỳ và rà soát cuối kỳ theo pháp luật Ấn Độ, chuẩn bị đầy đủ hồ sơ, dữ liệu sản xuất và kế toán để có cơ sở đề nghị điều chỉnh hoặc gỡ bỏ mức thuế trong các đợt rà soát tiếp theo.
Nhật Hạ