08:47 16/03/2022

Chuyên gia lo ngại vốn của ngân hàng "chảy" vào công ty "sân sau" của bất động sản

Theo TS Lê Xuân Nghĩa, có tình trạng vốn cho vay của ngân hàng dùng cho các công ty "sân sau" của bất động sản. Đây là một dấu hiệu đáng lo ngại khi mức độ cho vay các công ty sân sau Bất động sản đang ở mức cao kỷ lục trong lịch sử. 

TS Lê Xuân Nghĩa Việt Nam chưa có thị trường trái phiếu chân chính
TS Lê Xuân Nghĩa tham luận tại Hội thảo Nhận diện cơ hội thị trường chứng khoán năm 2022 tổ chức sáng 15/03

Huy động từ trái phiếu tập trung ở ngành bất động sản

Tại buổi tọa đàm "Nhận định cơ hội đầu tư chứng khoán năm 2022" do Tạp chí Nhà đầu tư tổ chức ngày 15/3, TS. Lê Xuân Nghĩa cho biết, năm 2021 cấu trúc trái phiếu doanh nghiệp gần 1 nửa là bất động sản, 30% từ ngân hàng. Toàn bộ khối lượng trái phiếu trong mấy năm vừa rồi không có bóng dáng khu vực sản xuất trực tiếp như công nghiệp chế biến chế tạo, nông nghiệp, công nghệ cao, thương mại, chỉ tập trung cho ngành đầu cơ lớn nhất là bất động sản. 

Bất chấp cảnh báo rủi ro hàng loạt doanh nghiệp địa ốc vào cuộc đua phát hành trái phiếu nghìn tỷ

Bất chấp cảnh báo rủi ro hàng loạt doanh nghiệp địa ốc vào cuộc đua phát hành trái phiếu nghìn tỷ

Trong bối cảnh các quy định siết chặt việc giao dịch trái phiếu, khối doanh nghiệp bất động sản vẫn đang liên tiếp huy động vốn qua kênh này. Ngay những tháng đầu năm 2022, hàng loạt doanh nghiệp địa ốc đã công bố phát hành các lô trái phiếu nghìn tỷ.

Giải thích về lý do tại sao sau nhiều năm phát triển, các lĩnh vực cần trái phiếu nhất như lĩnh vực sản xuất, thương mại lại khó huy động vốn trên thị trường này, chuyên gia cho rằng có 2 lý do chính.

Lý do thứ nhất là lãi suất huy động quá cao. Nhiều trái phiếu có lãi suất huy động từ 12-14%/năm, thậm chí có những Hợp đồng phát hành trái phiếu lãi suất chỉ 9,5% nhưng trên thực tế doanh nghiệp phải trả cho nhà đầu tư lãi suất trên 20%. Với mức lãi suất cao như vậy, các doanh nghiệp sản xuất rất khó có thể huy động vốn từ thị trường trái phiếu.

Lý do thứ hai liên quan đến kỳ hạn trái phiếu. TS. Lê Xuân Nghĩa cho biết các trái phiếu đang được phát hành với kỳ hạn tương đối ngắn, chỉ khoảng 3 năm, rất ít trái phiếu có kỳ hạn từ 5 năm trở lên. Kỳ hạn trái phiếu ngắn không đáp ứng được chu kỳ của lĩnh vực sản xuất, nhất là khi vừa vay xong họ đã phải tính đến phương án trả nợ. Cấu trúc kỳ hạn ngắn, lãi suất cao cho thấy trái phiếu doanh nghiệp có mức độ rủi ro tương đối lớn. 

Chuyên gia cũng lưu ý có tình trạng vốn cho vay của ngân hàng dùng cho các công ty "sân sau" của bất động sản. Ông Nghĩa cho rằng đây là một dấu hiệu đáng lo ngại khi mức độ cho vay các công ty sân sau Bất động sản đang ở mức cao kỷ lục trong lịch sử. 

TS Lê Xuân Nghĩa Việt Nam chưa có thị trường trái phiếu chân chính

Doanh nghiệp phụ thuộc hoàn toàn vào vốn ngân hàng

Đề cập về vấn đề đang tồn tại ở thị trường trái phiếu, ông Nghĩa bổ sung thêm vấn đề lớn nhất là sự cạnh tranh của ngành ngân hàng với toàn bộ thị trường tài chính. 96% tài sản tài chính thuộc về ngân hàng, cho thấy doanh nghiệp Việt Nam đang phục thuộc nhiều vào ngân hàng kể cả ngắn và trung hạn.

TS. Lê Xuân Nghĩa đánh giá phần lớn các doanh nghiệp phụ thuộc hoàn toàn vào vốn ngân hàng, các loại hình vốn khác có rủi ro cao rất ít được quan tâm. Hơn nữa lãi suất trung dài hạn của thị trường tín dụng khá cao (12-14%) đã đẩy lãi suất TPDN lên mức rất cao, gần với thặng dư vốn bình quân. Vì vậy, các doanh nghiệp sử dụng vốn từ TPDN sẽ không đạt được hiệu quả như mong muốn. 

Ngoài ra, kỳ hạn của TPDN chủ yếu là 3 năm cũng là một yếu tố hạn chế khả năng đầu tư và sinh lời của DN khu vực sản xuất thực sự. Chính vì vậy, cơ cấu giá trị của TPDN thường tập trung vào những ngành có yếu tố đầu cơ cao như bất động sản (chiếm 46% tổng số lượng TPDN phát hành) hoặc để gia tăng vốn chủ sở hữu cấp 2 của ngành ngân hàng (chiếm 30% tổng số lượng TPDN phát hành).

Trong đó, lượng lớn TPDN được dùng vào mục đích đảo nợ, góp vốn mua cổ phần hoặc mua bán sáp nhập. Ông Nghĩa cho rằng, cho dù TPDN Việt Nam phát triển rất sơ khai nhưng để phát triển đúng hướng hơn trong tương lai còn rất nhiều vấn đề, quan trọng là muốn giảm lãi suất của thị trường TPDN thì lãi suất tín dụng ngân hàng, đặc biệt lãi suất trung, dài hạn cũng phải giảm.

 Theo ông Nghĩa, năm 2022, giả định giá dầu thô toàn cầu tăng 58-60%, giá xăng Việt Nam tăng 30% thì GDP sẽ giảm 1.1-1.2%. Như vậy, dự đoán GDP của năm nay chỉ còn khoảng 5.2-5.5%. Bên cạnh đó, lạm phát có thể tăng 0.9-1%. TTCK năm 2022 vẫn tích cực dù không được như năm 2021, nhờ kỳ vọng lớn nhất từ nguồn vốn của nhà đầu tư nước ngoài sẽ quay lại Việt Nam.

Thị trường trái phiếu vì thế cũng khó phát triển hơn, phản ánh thị trường tài chính đang kém hiệu quả, đi ngược với xu hướng phát triển chung thị trường quốc tế.

TS Lê Xuân Nghĩa Việt Nam chưa có thị trường trái phiếu chân chính

Thị trường trái phiếu cần phải minh bạch hơn nữa

TS. Lê Xuân Nghĩa cũng cho rằng chúng ta chưa có thị trường trái phiếu chân chính, bởi yếu tố đầu cơ rất lớn. Do đó, vấn đề cốt lõi còn lại để phát triển lành mạnh thị trường TPDN chính là, thứ nhất, giải quyết các vướng mắc từ phát hành, một là minh bạch thông tin tài chính và mục đích sử dụng vốn của nhà phát hành. Càng minh bạch yếu tố rủi ro mới bị triệt tiêu.

Thứ hai, công tác giám sát trong hoạt động huy động vốn từ thị trường trái phiếu phải được thực hiện một cách nghiêm túc, chặt chẽ. Cuối cùng cần phải phát triển thị trường thứ cấp, tăng tính thanh khoản cho trái phiếu, đồng thời mở rộng cơ hội tiếp cận sản phẩm trái phiếu cho nhiều nhà đầu tư hơn. Lúc này, các doanh nghiệp lĩnh vực sản xuất như công nghiệp chế biến chế tạo, công nghệ cao, nông nghiệp và thương mại mới thực sự là trụ cột của thị trường này.

Liên quan tới vấn đề này TS. Vũ Bằng, nguyên Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Nhà nước cũng đưa ra nhiều ý kiến phản biện. Theo ông Bằng, để có thị trường trái phiếu hoàn chỉnh còn nhiều gian nan. Vốn vào bất động sản cũng tốt cho ngành xây dựng, giảm bớt rủi ro cho ngân hàng, đó là phù hợp. Kỳ hạn dài không nên kỳ vọng ngay mà nên phải ngắn hạn, rồi tốt thì tự nó thành dài hạn. Chưa thể đòi hỏi ngay từ thị trường TPDN, cần có lộ trình. Năm 2021, thị trường này huy động 500,000 tỷ hỗ trợ cho các ngành, các lĩnh vực nên mới có tăng trưởng.

Ông Bằng đề xuất một số phương án kiểm soát đầu vào như trái phiếu không có TSĐB phát hành không được nhiều, so với vốn chủ sở hữu. Hai là phát hành cho cá nhân nhà đầu tư chuyên nghiệp nhưng không quá 100 người để đổ vỡ không lan truyền lớn. Ba là có xếp hạng, minh bạch khi không có TSĐB. Đồng thời, không được cho vay lại khi không có TSĐB thì không được phát hành dài hạn, tối đa 2 năm.

Còn ở đầu ra thì không được cho vay lại, đầu tư vào lĩnh vực không có TSBĐ và sử dụng vốn không đúng mục đích. Cùng với đó chỉ nên kiểm soát bộ phận rủi ro mà không phải tất cả. “Trái phiếu riêng lẻ là dành cho mục tiêu không đại chúng, phục vụ cho công ty chứng khoán, các tổ chức tài chính nhưng giờ ta lại chặn thì không đúng thông lệ”, ông Bằng nhận xét. Theo đó, thị trường trái phiếu muốn phát triển cần tăng minh bạch chứ không phải là cho thêm rào cản.

Trung Anh (t/h)

Theo dõi Thương Trường trên