Giá nông sản ngày 17/7 ghi nhận diễn biến tích cực ở nhiều mặt hàng chủ lực. Cà phê tiếp tục tăng mạnh, tiến sát mốc 100.000 đồng/kg; hồ tiêu nhích thêm 500 đồng/kg tại một số địa phương, trong khi giá gạo nguyên liệu ở Đồng bằng sông Cửu Long tăng nhẹ, còn giá lúa và gạo xuất khẩu giữ ổn định.
Cà phê tiến sát mốc 100.000 đồng/kg
Khảo sát tại khu vực Tây Nguyên cho thấy giá cà phê nhân xô đồng loạt tăng thêm 1.200 đồng/kg so với ngày trước đó, đánh dấu phiên tăng thứ hai liên tiếp. Hiện giá thu mua dao động từ 97.900 - 98.500 đồng/kg.
Trong đó, Đắk Nông (nay thuộc tỉnh Lâm Đồng) tiếp tục là địa phương có giá cao nhất, đạt 98.500 đồng/kg. Đắk Lắk và Gia Lai cùng giao dịch ở mức 98.400 đồng/kg, trong khi Lâm Đồng có mức thấp nhất khu vực với 97.900 đồng/kg.
Trên thị trường quốc tế, giá cà phê đồng loạt tăng trở lại. Trên sàn London, hợp đồng robusta giao tháng 9/2026 tăng 62 USD/tấn (1,61%) lên 3.911 USD/tấn; kỳ hạn tháng 11 tăng 64 USD/tấn lên 3.864 USD/tấn.
Trong khi đó, trên sàn New York, giá arabica kỳ hạn tháng 9 tăng 0,65 US cent/pound lên 326,75 US cent/pound; hợp đồng tháng 12 tăng 1,95 US cent/pound lên 309,95 US cent/pound.
Theo các chuyên gia, đà tăng được hỗ trợ bởi đồng real Brazil mạnh lên so với USD, khiến nông dân Brazil giảm động lực bán ra, qua đó góp phần nâng đỡ giá cà phê thế giới.
Hồ tiêu tiếp tục phục hồi
Thị trường hồ tiêu trong nước cũng duy trì xu hướng tăng nhẹ. Giá thu mua tại một số địa phương tăng thêm 500 đồng/kg, đưa mặt bằng giá lên 137.000 - 140.000 đồng/kg.
Cụ thể, Bà Rịa - Vũng Tàu (nay thuộc TP.HCM) tăng lên 138.000 đồng/kg; Đồng Nai đạt 137.500 đồng/kg; Gia Lai lên 137.000 đồng/kg.
Trong khi đó, Đắk Lắk và Đắk Nông (thuộc tỉnh Lâm Đồng) tiếp tục giữ mức 140.000 đồng/kg, cao nhất cả nước.
Ở thị trường quốc tế, giá hồ tiêu nhìn chung ổn định. Theo Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế (IPC), tiêu đen xuất khẩu của Việt Nam được chào bán ở mức 5.850 USD/tấn đối với loại 500 g/l và 5.950 USD/tấn đối với loại 550 g/l.
Giá tiêu đen Indonesia duy trì ở 7.079 USD/tấn, tiêu Brazil ASTA 570 ở mức 5.900 USD/tấn, trong khi Malaysia tiếp tục dẫn đầu với 9.350 USD/tấn. Đối với tiêu trắng, giá xuất khẩu của Việt Nam giữ ở 8.200 USD/tấn, Indonesia ở mức 9.198 USD/tấn và Malaysia đạt 12.250 USD/tấn.
Giá gạo nguyên liệu tăng nhẹ, xuất khẩu đứng giá
Tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, giá gạo nguyên liệu có diễn biến tích cực khi gạo IR504 tăng 100 đồng/kg, lên mức 9.200 - 9.300 đồng/kg.
Các chủng loại khác cơ bản ổn định, gồm: gạo nguyên liệu CL555 ở mức 9.400 - 9.500 đồng/kg; OM5451 từ 9.500 - 9.600 đồng/kg; Đài Thơm 8 từ 9.200 - 9.400 đồng/kg; OM18 từ 8.700 - 8.850 đồng/kg; OM380 và Sóc Thơm cùng dao động 7.500 - 7.600 đồng/kg.
Đối với phụ phẩm, giá tấm thơm tăng thêm 100 đồng/kg lên 8.200 - 8.300 đồng/kg, trong khi cám giữ mức 7.900 - 8.050 đồng/kg.
Giá lúa tươi tại các địa phương nhìn chung ổn định. Đài Thơm 8 dao động 6.900 - 7.100 đồng/kg; IR50404 ở mức 6.000 - 6.200 đồng/kg; OM5451 và OM18 cùng dao động 6.300 - 6.500 đồng/kg.
Theo ghi nhận tại các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long, giao dịch mua bán vẫn diễn ra chậm, nông dân có xu hướng giữ giá cao, trong khi thương lái thận trọng hơn trong việc thu mua.
Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo Việt Nam không thay đổi so với phiên trước. Gạo Jasmine được chào bán ở mức 513 - 517 USD/tấn; gạo thơm 5% tấm ở mức 510 - 520 USD/tấn; gạo thơm 100% tấm dao động 348 - 352 USD/tấn.
Trong khi đó, gạo 5% tấm của Thái Lan được giao dịch ở mức 478 - 482 USD/tấn, còn gạo cùng loại của Ấn Độ dao động 350 - 354 USD/tấn. Điều này cho thấy gạo xuất khẩu Việt Nam vẫn duy trì mức giá cao hơn nhiều đối thủ trên thị trường quốc tế.
Trung Anh