Giá nông sản hôm nay 5/7 ghi nhận diễn biến trái chiều giữa các mặt hàng chủ lực. Giá cà phê trong nước và thế giới tiếp tục giảm do áp lực điều chỉnh trên hai sàn giao dịch quốc tế. Giá hồ tiêu duy trì ổn định ở vùng thấp nhất trong khoảng một năm qua. Trong khi đó, giá lúa tươi tại Đồng bằng sông Cửu Long đảo chiều tăng nhẹ ở một số chủng loại, còn giá gạo trong nước và xuất khẩu giữ ổn định.
Giá cà phê tiếp tục giảm
Thị trường cà phê thế giới khép lại phiên giao dịch ngày 4/7 (giờ Việt Nam) với xu hướng giảm trên cả hai sàn giao dịch lớn.
Trên Sàn Giao dịch London, giá cà phê Robusta kỳ hạn tháng 7/2026 giảm 67 USD/tấn, tương đương 1,39%, xuống còn 3.903 USD/tấn.
Trong khi đó, trên Sàn Giao dịch New York, giá cà phê Arabica kỳ hạn tháng 7/2026 giảm mạnh 8,65 cent/lb, tương đương 2,67%, còn 315,65 cent/lb.
Diễn biến giảm đồng thời của cả Robusta và Arabica cho thấy tâm lý thận trọng của giới đầu tư khi thị trường tiếp tục theo dõi triển vọng cung - cầu toàn cầu, biến động của đồng USD cũng như nhu cầu tiêu thụ tại các thị trường lớn.
Trong nước, giá cà phê nhân xô tại khu vực Tây Nguyên tiếp tục điều chỉnh giảm nhẹ theo diễn biến của thị trường quốc tế. Giá cà phê trung bình hiện ở mức khoảng 92.900 đồng/kg, giảm 100 đồng/kg so với phiên trước.
Đắk Nông tiếp tục là địa phương có giá thu mua cao nhất với 93.000 đồng/kg, giảm 200 đồng/kg. Tại Đắk Lắk, giá cà phê giảm 300 đồng/kg xuống còn 92.300 đồng/kg. Giá cà phê tại Gia Lai giảm 200 đồng/kg, còn 92.800 đồng/kg, trong khi Lâm Đồng cũng giảm 300 đồng/kg xuống 92.300 đồng/kg.
Theo giới phân tích, thị trường cà phê thời gian tới vẫn chịu tác động từ nguồn cung tại Brazil và Việt Nam, nhu cầu nhập khẩu của các thị trường tiêu thụ lớn, biến động tỷ giá cùng chính sách tiền tệ của Mỹ. Hoạt động chốt lời của các quỹ đầu tư sau giai đoạn giá cao cũng đang tạo áp lực lên thị trường. Tuy nhiên, nguồn cung toàn cầu chưa thực sự dồi dào cùng những lo ngại về thời tiết tại các quốc gia sản xuất lớn vẫn là yếu tố hỗ trợ giá trong trung hạn.
Giá hồ tiêu đi ngang ở vùng thấp nhất trong khoảng một năm
Giá hồ tiêu trong nước sáng 5/7 tiếp tục ổn định trong khoảng 133.000-135.000 đồng/kg, không thay đổi so với phiên trước.
Đắk Lắk và Đắk Nông vẫn là hai địa phương có mức giá cao nhất, đạt 135.000 đồng/kg. Gia Lai và Bà Rịa - Vũng Tàu cùng giao dịch ở mức 134.000 đồng/kg, trong khi Bình Phước và Đồng Nai duy trì mức thấp nhất là 133.000 đồng/kg.
Trên thị trường thế giới, theo cập nhật của Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế (IPC), giá hồ tiêu xuất khẩu tại các quốc gia sản xuất chủ chốt không ghi nhận biến động.
Tiêu đen Lampung của Indonesia giữ ở mức 7.121 USD/tấn, tiêu đen Brazil ASTA 570 ở mức 5.900 USD/tấn, trong khi tiêu đen Malaysia ASTA đạt 9.350 USD/tấn. Giá tiêu đen xuất khẩu của Việt Nam loại 500 g/l và 550 g/l tiếp tục ổn định trong khoảng 6.100-6.200 USD/tấn.
Đối với tiêu trắng, giá tiêu trắng Muntok của Indonesia giữ ở mức 9.253 USD/tấn, tiêu trắng Malaysia ASTA đạt 12.250 USD/tấn và tiêu trắng Việt Nam ở mức 9.000 USD/tấn.
Theo số liệu của Comex Stat, trong tháng 6/2026, Brazil xuất khẩu 6.202 tấn hồ tiêu, đạt kim ngạch 38 triệu USD, tăng 7,7% về lượng so với cùng kỳ năm trước nhưng giảm 32,1% so với tháng 5. Senegal vượt Việt Nam trở thành thị trường nhập khẩu hồ tiêu lớn nhất của Brazil trong tháng với 1.164 tấn, chiếm 18,8% tổng lượng xuất khẩu. Việt Nam đứng thứ ba với 715 tấn, giảm 76,4% so với tháng trước.
Lũy kế 6 tháng đầu năm, Brazil xuất khẩu 53.683 tấn hồ tiêu, đạt 332,7 triệu USD, tăng 7,9% về lượng và 7,4% về giá trị so với cùng kỳ năm 2025. Việt Nam vẫn là thị trường nhập khẩu lớn nhất với 15.065 tấn, chiếm 28,1% tổng lượng xuất khẩu của Brazil.
Giá lúa tươi tăng nhẹ, gạo trong nước và xuất khẩu đứng giá
Tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, giá lúa tươi hôm nay ghi nhận diễn biến tích cực khi một số chủng loại tăng giá.
Theo cập nhật của Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, lúa IR 50404 tăng 100 đồng/kg, dao động 5.400-5.600 đồng/kg. Lúa Đài Thơm 8 tăng 200 đồng/kg lên mức 6.200-6.400 đồng/kg.
Các giống lúa khác cơ bản giữ ổn định, trong đó lúa OM 18 dao động 6.200-6.300 đồng/kg, OM 34 ở mức 5.400-5.600 đồng/kg và OM 5451 ở mức 5.700-5.800 đồng/kg.
Tại Đồng Tháp, nông dân tiếp tục chào bán với giá cao hơn nhưng thương lái chưa chốt mua theo mức giá mới nên giao dịch vẫn khá chậm. Ở An Giang, một số nông dân nâng giá chào bán đối với lúa thơm chất lượng cao nhưng hoạt động mua bán vẫn cầm chừng. Tại Cần Thơ, Cà Mau, Vĩnh Long và Tây Ninh, lượng giao dịch mới không nhiều và giá lúa tươi nhìn chung ít biến động.
Đối với mặt hàng gạo, giá gạo nguyên liệu và gạo thành phẩm tiếp tục ổn định. Gạo nguyên liệu xuất khẩu IR 504 dao động 8.800-8.900 đồng/kg; CL555 ở mức 9.300-9.400 đồng/kg; OM5451 đạt 9.500-9.600 đồng/kg; Đài Thơm 8 dao động 9.200-9.400 đồng/kg; OM18 ở mức 8.700-8.850 đồng/kg. Gạo thành phẩm IR504 giữ mức 10.750-10.900 đồng/kg.
Giá phụ phẩm cũng ổn định, với tấm thơm dao động 8.000-8.100 đồng/kg và cám ở mức 7.950-8.100 đồng/kg.
Tại thị trường bán lẻ, giá các loại gạo không có biến động đáng kể. Gạo Nàng Nhen vẫn có giá cao nhất khoảng 28.000 đồng/kg, gạo Hương Lài 22.000 đồng/kg, gạo thơm Thái hạt dài 20.000-22.000 đồng/kg, Jasmine 16.000-17.000 đồng/kg, Đài Thơm 14.500-15.500 đồng/kg và gạo thường 14.000-16.000 đồng/kg tùy chủng loại.
Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo Việt Nam tiếp tục đi ngang. Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam, gạo Jasmine được chào bán ở mức 516-520 USD/tấn, gạo thơm 5% tấm dao động 500-510 USD/tấn và gạo 100% tấm ở mức 349-353 USD/tấn. Trong khi đó, gạo 5% tấm của Thái Lan được chào bán 478-482 USD/tấn, còn gạo 5% tấm của Ấn Độ dao động 350-354 USD/tấn.
Trung Anh