Khối doanh nghiệp nhà nước đang quản lý khối tài sản và nguồn vốn lên tới hàng triệu tỷ đồng, giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế. Trước yêu cầu nâng cao hiệu quả sử dụng vốn và tăng cường minh bạch, Thông tư mới của Bộ Tài chính về giám sát, đánh giá và quản lý vốn nhà nước được kỳ vọng sẽ nâng cao hiệu quả quản trị doanh nghiệp, góp phần bảo toàn và phát triển nguồn lực quốc gia.
Không chỉ là câu chuyện “giữ vốn”
Trong nhiều năm qua, doanh nghiệp nhà nước luôn được xem là lực lượng vật chất quan trọng của nền kinh tế, nắm giữ những lĩnh vực then chốt từ năng lượng, dầu khí, điện lực, viễn thông, hạ tầng giao thông, hàng không hay tài nguyên khoáng sản.
Những tập đoàn kinh tế lớn như Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam (Petrovietnam), Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT), Tổng công ty Hàng không Việt Nam (Vietnam Airlines)... không chỉ thực hiện nhiệm vụ sản xuất, kinh doanh mà còn đảm nhận nhiều nhiệm vụ chính trị, bảo đảm an ninh năng lượng, an ninh thông tin và kết nối nền kinh tế.
Khối doanh nghiệp nhà nước đang quản lý khối tài sản và nguồn vốn lên tới hàng triệu tỷ đồng (ảnh: minh họa)
Khối doanh nghiệp này đang quản lý lượng tài sản, vốn nhà nước rất lớn, đồng thời đóng góp đáng kể vào ngân sách, tăng trưởng GDP và đầu tư phát triển. Tuy nhiên, quy mô nguồn lực càng lớn thì yêu cầu về quản trị, minh bạch và hiệu quả sử dụng vốn càng trở nên cấp thiết.
Thực tế cho thấy, trong nhiều năm, việc đánh giá hiệu quả doanh nghiệp nhà nước chủ yếu tập trung vào các chỉ tiêu doanh thu, lợi nhuận hay mức độ hoàn thành kế hoạch. Trong khi đó, những tiêu chí phản ánh chất lượng quản trị, hiệu quả sử dụng vốn, khả năng bảo toàn và phát triển vốn, quản trị rủi ro hay trách nhiệm của người đại diện chủ sở hữu chưa thực sự được lượng hóa đầy đủ.
Không ít trường hợp doanh nghiệp vẫn ghi nhận lợi nhuận nhưng hiệu quả sử dụng vốn chưa tương xứng với nguồn lực được giao. Một số dự án đầu tư kéo dài, chậm tiến độ hoặc chưa phát huy hiệu quả từng đặt ra yêu cầu phải hoàn thiện cơ chế giám sát, chuyển từ quản lý theo thủ tục sang quản lý dựa trên hiệu quả đầu tư. Đó cũng là lý do việc hoàn thiện khung pháp lý về quản lý vốn nhà nước đang trở thành một trong những nhiệm vụ trọng tâm của Chính phủ và Bộ Tài chính trong giai đoạn hiện nay.
Theo đó, mới đây, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư hướng dẫn công tác giám sát, đánh giá, kiểm tra, báo cáo và công khai thông tin trong quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp. Thông tư được xây dựng nhằm cụ thể hóa các quy định của Luật Quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp, đồng thời tạo khuôn khổ thống nhất cho việc theo dõi, đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp có vốn nhà nước.
Điểm đáng chú ý là phạm vi giám sát không chỉ dừng lại ở kết quả sản xuất, kinh doanh mà mở rộng sang nhiều nội dung như bảo toàn và phát triển vốn, hiệu quả đầu tư, quản trị doanh nghiệp, công khai thông tin, trách nhiệm của người quản lý và người đại diện phần vốn nhà nước.
Theo đó, doanh nghiệp phải thực hiện đầy đủ chế độ báo cáo, công bố thông tin và chịu sự giám sát thường xuyên của cơ quan đại diện chủ sở hữu. Các chỉ tiêu đánh giá không chỉ phản ánh lợi nhuận hay doanh thu mà còn xem xét mức độ hoàn thành mục tiêu chiến lược, hiệu quả sử dụng tài sản, khả năng kiểm soát rủi ro và tuân thủ pháp luật.
Thông tư cũng đặt nền tảng cho việc tăng cường trách nhiệm giải trình của người đại diện vốn nhà nước. Điều này được kỳ vọng sẽ góp phần nâng cao tính minh bạch, giảm thiểu nguy cơ thất thoát vốn và tạo động lực để doanh nghiệp tối ưu hóa nguồn lực được giao.
Từ “bảo toàn” sang “gia tăng giá trị”
Theo các chuyên gia kinh tế, xu hướng quản lý vốn nhà nước trên thế giới đã có sự thay đổi đáng kể trong nhiều năm gần đây. Nếu trước đây mục tiêu chủ yếu là bảo toàn vốn, thì hiện nay trọng tâm chuyển sang nâng cao hiệu quả đầu tư, tối ưu hóa giá trị tài sản và tạo lợi ích dài hạn cho nền kinh tế.
Điều này cũng phù hợp với định hướng cải cách quản trị doanh nghiệp nhà nước tại Việt Nam. Trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt, yêu cầu chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và đầu tư vào các ngành công nghệ cao đòi hỏi doanh nghiệp nhà nước không chỉ duy trì quy mô mà còn phải nâng cao năng suất lao động, năng lực đổi mới sáng tạo và hiệu quả sử dụng từng đồng vốn.
Việc Bộ Tài chính liên tục hoàn thiện cơ chế giám sát, cùng với việc giao chỉ tiêu tăng trưởng, hiệu quả và công khai thông tin đối với các tập đoàn, tổng công ty nhà nước cho thấy tư duy quản lý đang chuyển mạnh từ “quản lý hành chính” sang “quản trị theo hiệu quả”.
Đối với các doanh nghiệp do Bộ Tài chính làm đại diện chủ sở hữu, mục tiêu kinh doanh và sử dụng vốn được gắn với các chỉ tiêu tăng trưởng, hiệu quả và năng suất theo quyết định giao kế hoạch hằng năm. Các chuyên gia nhận định, đây là điều kiện quan trọng để nâng cao chất lượng quản trị doanh nghiệp, đồng thời tạo niềm tin cho nhà đầu tư, các tổ chức tín dụng và thị trường vốn.
Nhìn tổng thể, các tập đoàn kinh tế nhà nước vẫn giữ vai trò chủ lực trong nhiều lĩnh vực có ý nghĩa chiến lược đối với nền kinh tế. Nhiều doanh nghiệp đã ghi nhận sự phục hồi tích cực sau giai đoạn khó khăn, đồng thời đẩy mạnh đầu tư vào chuyển đổi số, hạ tầng, năng lượng và công nghệ.
Chẳng hạn, VNPT xác định giai đoạn 2026–2030 sẽ tập trung đổi mới mô hình tổ chức, thành lập đơn vị chuyên về AI, phát triển 5G, trung tâm dữ liệu và hạ tầng số, đồng thời nâng cao hiệu quả quản trị doanh nghiệp theo chuẩn mực quốc tế và tăng cường quản trị trên nền tảng dữ liệu thời gian thực. Trong khi, Vietnam Airlines cũng đặt mục tiêu phát triển bền vững, tái cơ cấu hoạt động, nâng cao hiệu quả tài chính và quản trị doanh nghiệp trong Báo cáo thường niên 2025.
Những định hướng này cho thấy quản lý vốn nhà nước không còn là bài toán nội bộ của từng doanh nghiệp, mà đã trở thành một phần trong chiến lược nâng cao năng lực cạnh tranh của cả nền kinh tế. Khi các doanh nghiệp nhà nước nắm giữ lượng vốn và tài sản rất lớn hoạt động hiệu quả hơn, tác động lan tỏa sẽ không chỉ dừng ở tăng trưởng doanh thu hay lợi nhuận, mà còn góp phần thúc đẩy đầu tư, đổi mới sáng tạo và nâng cao sức chống chịu của nền kinh tế trước các biến động toàn cầu.
Phượng Hòa