Làn sóng nhập khẩu máy móc, nguyên liệu cho thấy doanh nghiệp đang đẩy mạnh đầu tư mở rộng sản xuất.
Nhu cầu vốn bùng nổ từ làn sóng nhập khẩu máy móc
Hàng loạt gói tín dụng quy mô hàng trăm nghìn tỷ đồng cùng những điều chỉnh linh hoạt trong điều hành chính sách tiền tệ đang cho thấy hệ thống ngân hàng không chỉ đóng vai trò cung ứng vốn mà còn chủ động "mở đường" cho dòng tiền chảy vào sản xuất, đầu tư và các lĩnh vực động lực của nền kinh tế.
Diễn biến của hoạt động thương mại trong nửa đầu năm cũng phản ánh nhu cầu vốn của doanh nghiệp đang gia tăng mạnh. Sau nhiều năm liên tục xuất siêu, Việt Nam ghi nhận mức nhập siêu khoảng 16,65 tỷ USD trong 6 tháng đầu năm 2026. Mặc dù tạo ra áp lực nhất định đối với tỷ giá và cán cân thanh toán, song nhiều chuyên gia cho rằng đây chưa hẳn là tín hiệu tiêu cực.
Phát biểu tại Diễn đàn "Kích hoạt tăng trưởng: Chính sách vi mô đột phá và mục tiêu hai con số" ngày 14/7, PGS.TS Phạm Thị Hoàng Anh, Phó Giám đốc Học viện Ngân hàng, cho biết hơn 90% kim ngạch nhập khẩu hiện nay là nguyên vật liệu, máy móc và thiết bị phục vụ sản xuất. Điều đó cho thấy doanh nghiệp đang chủ động nhập khẩu đầu vào để mở rộng công suất, chuẩn bị cho các đơn hàng xuất khẩu và chu kỳ tăng trưởng mới, thay vì nhập khẩu chủ yếu cho mục đích tiêu dùng.
Theo bà Hoàng Anh, sự gia tăng nhập khẩu tư liệu sản xuất phản ánh niềm tin của khu vực doanh nghiệp vào triển vọng phục hồi của nền kinh tế. Khi doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư máy móc, công nghệ và nguyên liệu đầu vào, nhu cầu vốn trung và dài hạn cũng tăng lên tương ứng, đặt ra yêu cầu hệ thống ngân hàng phải có nguồn lực tài chính đủ lớn để đáp ứng.
Để đáp ứng nhu cầu vốn ngày càng lớn, ngành ngân hàng tăng tốc triển khai các gói tín dụng ưu đãi và chủ động khơi thông dòng vốn vào các lĩnh vực trọng điểm.
Trước nhu cầu tín dụng ngày càng gia tăng, Ngân hàng Nhà nước đã liên tiếp điều chỉnh các công cụ điều hành nhằm mở rộng khả năng cung ứng vốn cho nền kinh tế.
Đáng chú ý, cơ quan quản lý đã nâng tỷ lệ tối đa sử dụng nguồn vốn ngắn hạn để cho vay trung và dài hạn từ 30% lên 40%, đồng thời điều chỉnh cách tính tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi (LDR) theo hướng linh hoạt hơn khi cho phép các tổ chức tín dụng tính thêm 20% tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước vào nguồn vốn huy động. Những thay đổi này giúp các ngân hàng gia tăng dư địa cho vay, nhất là đối với các dự án đầu tư, sản xuất và hạ tầng có nhu cầu vốn lớn.
Song song với việc nới dư địa tín dụng, hệ thống ngân hàng cũng triển khai nhiều chương trình cho vay ưu đãi quy mô lớn nhằm đưa dòng vốn đến đúng các lĩnh vực ưu tiên. Trong đó, nổi bật là chương trình tín dụng 185.000 tỷ đồng dành cho lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản với lãi suất thấp hơn mặt bằng thị trường từ 1-2 điểm phần trăm.
Theo bà Phạm Thị Thanh Tùng, Phó Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế (Ngân hàng Nhà nước), nông nghiệp, nông thôn và xuất khẩu tiếp tục là nhóm lĩnh vực được ưu tiên trong chính sách tín dụng. Đến nay, chương trình đã giải ngân lũy kế khoảng 168.000 tỷ đồng cho hơn 52.000 lượt khách hàng, tương đương khoảng 91% quy mô chương trình.
Riêng dư nợ tín dụng đối với doanh nghiệp xuất khẩu hiện đạt khoảng 4,5 triệu tỷ đồng, chiếm gần 23% tổng dư nợ của toàn nền kinh tế, cho thấy dòng vốn ngân hàng đang tập trung mạnh vào khu vực tạo ra giá trị gia tăng và nguồn thu ngoại tệ.
Ở một hướng khác, gói tín dụng 500.000 tỷ đồng do 21 ngân hàng thương mại triển khai dành cho các dự án hạ tầng chiến lược và công nghệ số cũng được kỳ vọng tạo thêm động lực cho tăng trưởng. Toàn bộ nguồn vốn được huy động từ chính các tổ chức tín dụng với cam kết lãi suất thấp hơn thị trường khoảng 1-1,5 điểm phần trăm, góp phần thúc đẩy đầu tư vào hạ tầng, chuyển đổi số và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.
Theo các chuyên gia, việc đồng thời nới dư địa tín dụng và triển khai các gói vốn quy mô lớn cho thấy định hướng điều hành của Ngân hàng Nhà nước đã chuyển mạnh từ hỗ trợ thanh khoản sang dẫn vốn có trọng tâm. Nếu dòng tín dụng tiếp tục được phân bổ hiệu quả vào sản xuất, xuất khẩu, hạ tầng và công nghệ, đây sẽ là nền tảng quan trọng để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng kinh tế ở mức cao trong những năm tới.
Ngân hàng chủ động "mở đường" cho dòng vốn
Nếu trước đây doanh nghiệp phải chủ động tìm đến ngân hàng để tiếp cận vốn thì nay nhiều tổ chức tín dụng đã thay đổi cách tiếp cận, chuyển sang đồng hành và tìm kiếm khách hàng ngay từ đầu. Từ việc đơn giản hóa thủ tục, đẩy mạnh số hóa đến xây dựng các gói tín dụng chuyên biệt, hệ thống ngân hàng đang từng bước rút ngắn khoảng cách giữa chính sách và khả năng hấp thụ vốn của doanh nghiệp.
Tại TP.HCM - trung tâm kinh tế lớn nhất cả nước, ngành ngân hàng đang triển khai đồng thời nhiều giải pháp nhằm đẩy nhanh tốc độ giải ngân. Theo bà Trần Thị Ngọc Liên, Phó Giám đốc Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh Khu vực 2, đơn vị hiện tập trung triển khai bốn chương trình tín dụng trọng điểm, đồng thời đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính và chuyển đổi số trong toàn hệ thống. Doanh nghiệp có thể nộp hồ sơ trực tuyến thông qua mã QR, theo dõi tiến độ xử lý trên môi trường số, qua đó giảm đáng kể thời gian, chi phí và số lần phải đi lại trong quá trình tiếp cận vốn.
Không chỉ cải cách quy trình, các ngân hàng thương mại cũng đang chủ động dẫn vốn vào các lĩnh vực tạo động lực tăng trưởng của nền kinh tế. Ông Nguyễn Thanh Tùng, Chủ tịch Hội đồng quản trị Vietcombank, cho biết ngân hàng hiện ưu tiên bố trí nguồn vốn cho nhiều dự án trọng điểm quốc gia như LNG Quảng Trạch II, chuỗi dự án khí - điện Lô B - Ô Môn và các tuyến đường sắt đô thị.
Đến cuối tháng 6/2026, tổng tài sản của Vietcombank đạt gần 2,67 triệu tỷ đồng, trong khi dư nợ tín dụng đối với doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME) đều duy trì tốc độ tăng trưởng tích cực, phản ánh xu hướng dòng vốn đang được tập trung nhiều hơn vào khu vực sản xuất và đầu tư.
Ở khối ngân hàng thương mại cổ phần, cách tiếp cận tín dụng cũng đang có sự thay đổi đáng kể. Đại diện HDBank cho biết việc cấp tín dụng không còn phụ thuộc chủ yếu vào quy mô tài sản bảo đảm hay yêu cầu doanh nghiệp phải có lịch sử hoạt động nhiều năm.
Thay vào đó, ngân hàng ưu tiên đánh giá triển vọng thị trường, hợp đồng đầu ra, dòng tiền và năng lực quản trị của doanh nghiệp. Mô hình tài trợ chuỗi cung ứng cũng được mở rộng, tạo điều kiện để doanh nghiệp tiếp cận vốn dựa trên hiệu quả hoạt động thực tế thay vì chỉ dựa vào tài sản thế chấp như trước.
Làn sóng nhập khẩu máy móc, nguyên liệu cho thấy doanh nghiệp đang đẩy mạnh đầu tư mở rộng sản xuất.
Theo các chuyên gia, sự thay đổi trong tư duy cấp tín dụng cho thấy hệ thống ngân hàng đang chuyển dần từ mô hình cho vay truyền thống sang mô hình đồng hành cùng doanh nghiệp trong toàn bộ chuỗi sản xuất - kinh doanh. Điều này không chỉ giúp nâng cao khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế mà còn góp phần đưa dòng tín dụng đến đúng những lĩnh vực có khả năng tạo ra giá trị gia tăng và tăng trưởng bền vững.
Tuy nhiên, PGS.TS Phạm Thị Hoàng Anh, Phó Giám đốc Học viện Ngân hàng, lưu ý việc mở rộng dư địa tín dụng và triển khai nhiều cơ chế hỗ trợ không đồng nghĩa với việc nới lỏng các tiêu chuẩn cấp tín dụng. Các tổ chức tín dụng vẫn phải tuân thủ đầy đủ quy trình thẩm định, đánh giá khả năng trả nợ và quản trị rủi ro nhằm bảo đảm an toàn cho toàn hệ thống tài chính.
Các chuyên gia cũng cho rằng, để dòng vốn thực sự phát huy hiệu quả, chính sách tiền tệ linh hoạt cần đi cùng với cải cách thể chế, phát triển thị trường vốn và nâng cao năng lực hấp thụ vốn của doanh nghiệp.
Khi những "điểm nghẽn" về thủ tục, pháp lý và nguồn lực được tháo gỡ đồng bộ, tín dụng sẽ không chỉ là công cụ hỗ trợ thanh khoản mà còn trở thành động lực thúc đẩy đầu tư, nâng cao năng lực cạnh tranh và hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng kinh tế ở mức hai con số trong giai đoạn tới.
Thanh Cao