11:57 08/07/2026

Doanh nghiệp gánh lãi suất, ngân hàng lo nợ xấu

Lãi suất cho vay vẫn phổ biến trên 10%/năm đang bào mòn lợi nhuận của doanh nghiệp, trong khi áp lực nợ xấu gia tăng khiến các ngân hàng phải đẩy mạnh xử lý tài sản bảo đảm. Bài toán cân bằng giữa hỗ trợ tăng trưởng và bảo đảm an toàn hệ thống tín dụng ngày càng trở nên cấp thiết.

Gánh nặng lãi suất trên 10%

Dù mặt bằng lãi suất đã hạ nhiệt đáng kể so với giai đoạn đỉnh điểm, chi phí vốn vẫn đang là một trong những rào cản lớn nhất đối với khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa. Hiện lãi suất cho vay phổ biến dành cho nhóm doanh nghiệp này vẫn dao động khoảng 11-12%/năm, thậm chí cao hơn đối với các khoản vay có mức độ rủi ro lớn.

Theo ông Trần Văn Hiển, Trưởng ban Kinh tế và Xúc tiến thương mại, Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam, mức lãi suất cụ thể phụ thuộc vào từng ngân hàng, lĩnh vực hoạt động và năng lực tài chính của doanh nghiệp. Những đơn vị có dòng tiền ổn định, lịch sử tín dụng tốt có thể tiếp cận vốn với chi phí thấp hơn, trong khi các doanh nghiệp bị đánh giá rủi ro buộc phải chấp nhận mức lãi suất cao hơn đáng kể.

Tuy nhiên, theo ông Hiển, khi chi phí vốn vượt ngưỡng 10%/năm, hiệu quả kinh doanh của phần lớn doanh nghiệp gần như bị triệt tiêu. "Nếu vay trên mức này thì rất khó có lãi. Doanh nghiệp chỉ vay khi khoản đầu tư tạo ra lợi nhuận cao hơn chi phí vốn. Nếu lãi vay vượt quá khả năng sinh lời thì họ sẽ không dám mở rộng sản xuất, thậm chí dừng vay", ông nói.

Điều đáng lo ngại hơn, theo đại diện Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam, không chỉ là mức lãi suất mà còn là khả năng tiếp cận tín dụng ngày càng khó khăn. Thực tế có những doanh nghiệp chấp nhận vay với lãi suất 13-14%/năm nhưng vẫn không được giải ngân do không đáp ứng các điều kiện tín dụng. Vì vậy, nếu chỉ giảm lãi suất mà không tháo gỡ các "nút thắt" trong điều kiện vay vốn thì hiệu quả hỗ trợ doanh nghiệp sẽ rất hạn chế.

Ông Hiển cũng cho rằng nhu cầu cấp thiết hiện nay là các khoản vay trung và dài hạn với lãi suất khoảng 10-11%/năm để doanh nghiệp đầu tư máy móc, đổi mới công nghệ và mở rộng sản xuất. Trong khi đó, nhiều chương trình tín dụng vẫn chủ yếu tập trung vào vốn lưu động ngắn hạn, chưa đáp ứng được nhu cầu đầu tư dài hạn của doanh nghiệp.

Theo phân tích của ông, với những ngành chỉ đạt biên lợi nhuận khoảng 10-13%, nếu phải vay vốn với lãi suất lên tới 15%/năm thì càng mở rộng sản xuất càng thua lỗ. Khi đó, doanh nghiệp buộc phải thu hẹp quy mô, trì hoãn đầu tư hoặc chấp nhận đứng ngoài thị trường.

Ở góc độ vĩ mô, các chuyên gia nhận định dư địa giảm lãi suất trong những tháng cuối năm không còn nhiều.

Ông Nguyễn Quang Huy, giảng viên Khoa Tài chính - Ngân hàng, Trường Đại học Nguyễn Trãi, cho rằng trong kịch bản cơ sở, lãi suất huy động nhiều khả năng sẽ tiếp tục ổn định hoặc tăng nhẹ ở một số kỳ hạn, tùy thuộc vào diễn biến tăng trưởng tín dụng và áp lực tỷ giá.

Theo ông Huy, lãi suất cho vay cũng khó có thể giảm sâu hơn. Việc điều hành cần bảo đảm sự cân bằng giữa mục tiêu hỗ trợ doanh nghiệp với yêu cầu kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô và bảo đảm an toàn cho hệ thống ngân hàng.

Cùng quan điểm, PGS.TS. Nguyễn Hữu Huân, Phó Chủ tịch Cơ quan điều hành Trung tâm Tài chính Quốc tế Việt Nam tại TP.HCM, dự báo xu hướng chủ đạo của lãi suất trong 6 tháng cuối năm 2026 sẽ là ổn định. Lãi suất huy động có thể tăng khoảng 0,2-0,5 điểm phần trăm ở một số kỳ hạn trung và dài hạn, chủ yếu tại các ngân hàng quy mô nhỏ hoặc có tốc độ tăng trưởng tín dụng cao.

Tuy vậy, theo ông Huân, khả năng xuất hiện một cuộc đua lãi suất trên diện rộng là không lớn bởi thanh khoản của hệ thống ngân hàng vẫn khá dồi dào. Đồng thời, lãi suất cho vay cũng khó tăng mạnh do yêu cầu hỗ trợ tăng trưởng kinh tế và áp lực cạnh tranh ngày càng lớn giữa các ngân hàng trong việc thu hút khách hàng có chất lượng tín dụng tốt.

Doanh nghiệp gánh lãi suất ngân hàng lo nợ xấu
Lãi suất cho vay vẫn phổ biến trên 10%/năm đang bào mòn lợi nhuận của doanh nghiệp, trong khi áp lực nợ xấu gia tăng khiến các ngân hàng phải đẩy mạnh xử lý tài sản bảo đảm. 

Áp lực nợ xấu và làn sóng xử lý tài sản bảo đảm

Trong bối cảnh doanh nghiệp chật vật vì chi phí vốn cao, hệ thống ngân hàng cũng đang phải đối mặt với một bài toán không kém phần nan giải: áp lực nợ xấu gia tăng. Điều này được phản ánh rõ qua việc hàng loạt ngân hàng đồng loạt đẩy nhanh tiến độ xử lý tài sản bảo đảm và bán đấu giá các khoản nợ nhằm thu hồi vốn, cải thiện chất lượng bảng cân đối kế toán.

Thời gian gần đây, hoạt động đấu giá tài sản bảo đảm diễn ra với tần suất dày đặc tại nhiều ngân hàng thương mại như VietinBank, BIDV, Agribank, SHB, LPBank và Sacombank. Từ quyền sử dụng đất, nhà xưởng, dự án bất động sản đến máy móc, dây chuyền sản xuất, cổ phần doanh nghiệp hay các khoản phải thu đều lần lượt được đưa ra thị trường nhằm xử lý các khoản vay quá hạn.

Đáng chú ý, Công ty Quản lý nợ và Khai thác tài sản Agribank (Agribank AMC) liên tục công bố đấu giá nhiều khoản nợ doanh nghiệp có giá trị lớn. Không ít khoản vay đã kéo dài nhiều năm, khiến tiền lãi phát sinh vượt xa dư nợ gốc. Có trường hợp riêng phần lãi cộng dồn đã lên tới hơn 35,4 tỷ đồng, phản ánh áp lực tích tụ nợ trong thời gian dài và những khó khăn trong quá trình thu hồi.

Tương tự, VietinBank liên tiếp phát đi các thông báo lựa chọn tổ chức đấu giá tài sản, đơn vị thẩm định giá hoặc thực hiện xử lý tài sản bảo đảm thông qua công ty quản lý nợ trực thuộc. Trong khi đó, BIDV cũng đẩy mạnh tiến trình xử lý các khoản nợ xấu khi nhiều chi nhánh như Phú Nhuận, Gia Định liên tục thông báo lựa chọn đơn vị thẩm định giá, bán đấu giá tài sản bảo đảm ngay trong những ngày cuối tháng 6.

Theo TS. Đào Minh Tú, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam, sức ép đối với hệ thống ngân hàng hiện không chỉ đến từ chất lượng tín dụng mà còn xuất phát từ sự mất cân đối giữa nguồn vốn huy động và nhu cầu tín dụng. Khi tốc độ tăng tiền gửi thấp hơn tốc độ tăng trưởng tín dụng, thanh khoản của hệ thống chịu áp lực lớn hơn, khiến dư địa giảm lãi suất cho vay ngày càng thu hẹp.

Ông Tú cho rằng khó khăn của khu vực doanh nghiệp đang tạo ra nguy cơ gia tăng cả nợ xấu hiện hữu lẫn nợ xấu tiềm ẩn. Đáng lo ngại hơn, sau khi Nghị quyết 42 về thí điểm xử lý nợ xấu hết hiệu lực, quá trình thu giữ và xử lý tài sản bảo đảm gặp nhiều vướng mắc pháp lý, làm kéo dài thời gian thu hồi nợ và ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng.

Số liệu của Ngân hàng Nhà nước cho thấy, trong 5 tháng đầu năm 2026, toàn hệ thống các tổ chức tín dụng đã xử lý khoảng 90,15 nghìn tỷ đồng nợ xấu, giảm 24,3% so với cùng kỳ năm trước. Đến cuối tháng 5, tỷ lệ nợ xấu nội bảng ở mức 3,43%. Nếu loại trừ 5 ngân hàng thuộc diện kiểm soát và xử lý đặc biệt gồm VCBNeo, MBV, GPBank, Vikki Bank và SCB, tỷ lệ này giảm xuống còn 1,55%. Trong khi đó, tỷ lệ nợ xấu gộp toàn hệ thống ở mức 3,9%, hoặc 1,74% nếu không tính 5 ngân hàng nói trên.

Theo các chuyên gia phân tích của Chứng khoán Shinhan, chất lượng tài sản sẽ tiếp tục là thách thức lớn nhất đối với ngành ngân hàng trong giai đoạn tới. Khi mặt bằng lãi suất vẫn neo ở mức tương đối cao, áp lực trả nợ của doanh nghiệp và người dân sẽ gia tăng, kéo theo nguy cơ các khoản vay suy giảm chất lượng.

Đặc biệt, nhóm nợ cần chú ý (nợ nhóm 2) đang được xem là "vùng cảnh báo sớm" đối với rủi ro tín dụng. Nếu hoạt động sản xuất, kinh doanh không cải thiện hoặc dòng tiền của doanh nghiệp tiếp tục suy yếu, nhiều khoản vay trong nhóm này có thể nhanh chóng chuyển thành nợ xấu, tạo thêm áp lực trích lập dự phòng cho các ngân hàng.

Ở góc độ kinh tế vĩ mô, TS. Cấn Văn Lực, Chuyên gia kinh tế trưởng BIDV, nhận định rủi ro nợ xấu trong thời gian tới vẫn hiện hữu khi nền kinh tế phải đối mặt với nhiều yếu tố bất định như căng thẳng địa chính trị, chi phí đầu vào tăng cao và sức cầu phục hồi chậm. Bên cạnh đó, sự trầm lắng kéo dài của phân khúc bất động sản cao cấp không chỉ ảnh hưởng đến thanh khoản thị trường mà còn làm suy giảm giá trị tài sản bảo đảm, qua đó tác động trực tiếp đến khả năng thu hồi nợ của các ngân hàng.

Trước những áp lực ngày càng lớn đối với hệ thống tín dụng, Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam cho rằng cần sớm phát triển thị trường vốn trung và dài hạn theo hướng thực chất, qua đó chia sẻ gánh nặng cung ứng vốn với hệ thống ngân hàng. Khi doanh nghiệp có thêm kênh huy động vốn từ trái phiếu, cổ phiếu và các định chế tài chính khác, áp lực tín dụng sẽ được giảm bớt, góp phần cải thiện chất lượng tài sản của các ngân hàng cũng như tạo dư địa để hạ chi phí vốn cho nền kinh tế.

Thanh Cao