09:37 21/03/2022

Doanh nghiệp "gom đất" làm dự án có quyền thu hồi đất không?

Để biết doanh nghiệp có thẩm quyền thu hồi đất hay không cần phải xem quy định của pháp luật đất đai hiện hành.

Doanh nghiệp gom đất làm dự án có quyền thu hồi đất không
Doanh nghiệp "gom đất" làm dự án có quyền thu hồi đất không?

Tại Điều 66 Luật Đất đai 2013 quy định rõ thẩm quyền thu hồi đất thuộc về Ủy ban nhân dân cấp tỉnh (tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương), Ủy ban nhân dân cấp huyện (huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương), cụ thể:

* Thẩm quyền thu hồi đất của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh

Khoản 1 Điều 66 Luật Đất đai 2013 quy định Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thu hồi đất trong các trường hợp sau:

(1) Thu hồi đất đối với tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, trừ trường hợp đất ở của người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sở hữu nhà ở tại Việt Nam.

(2) Thu hồi đất nông nghiệp thuộc quỹ đất công ích của xã, phường, thị trấn (Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn có thẩm quyền cho thuê đất công ích tại địa phương mình nhưng thu hồi thuộc về cấp tỉnh).

* Thẩm quyền thu hồi đất của Ủy ban nhân dân cấp huyện

Căn cứ khoản 2 Điều 66 Luật Đất đai 2013, Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định thu hồi đất trong các trường hợp sau:

(1) Thu hồi đất đối với hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư.

(2) Thu hồi đất ở của người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sở hữu nhà ở tại Việt Nam.

Lưu ý: Trường hợp trong khu vực thu hồi đất có cả đối tượng thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và cấp huyện thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thu hồi đất hoặc ủy quyền cho Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định thu hồi đất.

Tóm lại, doanh nghiệp không có thẩm quyền thu hồi đất đối với bất kỳ trường hợp nào. 

Doanh nghiệp được phép mua, thuê đất làm dự án

Hiện nay nhiều doanh nghiệp cần có quỹ đất để thực hiện dự án. Đây là trường hợp không thuộc diện thu hồi để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng theo quy định tại Điều 62 Luật Đất đai 2013.

Nói cách khác, doanh nghiệp cần quỹ đất thực hiện dự án, xây dựng trụ sở, nhà xưởng,… thì khi đó phục vụ mục đích là tìm kiếm lợi nhuận cho doanh nghiệp. Do đó, muốn có đất thì doanh nghiệp phải làm việc trực tiếp với người sử dụng đất (hộ gia đình, cá nhân,…) để nhận chuyển nhượng, thuê đất hoặc nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất.

Nội dung này được nêu rõ tại Điều 73 Luật Đất đai 2013, cụ thể:

“1. Việc sử dụng đất để thực hiện dự án, công trình sản xuất, kinh doanh không thuộc trường hợp Nhà nước thu hồi đất quy định tại Điều 61 và Điều 62 của Luật này mà phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt thì chủ đầu tư được nhận chuyển nhượng, thuê quyền sử dụng đất, nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

2. Nhà nước có chính sách khuyến khích việc thuê quyền sử dụng đất, nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất của tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân để thực hiện dự án, công trình sản xuất, kinh doanh.”.

Theo đó, doanh nghiệp có quyền thỏa thuận với người dân để thống nhất về giá chuyển nhượng, giá thuê đất. Nói cách khác, doanh nghiệp không có quyền thu hồi hay bắt ép người sử dụng đất rời đi nơi khác để lấy đất làm dự án, xây dựng nhà xưởng,...vì lợi ích của doanh nghiệp.

Hà Yên (t/h)

Theo dõi Thương Trường trên