Giá nông sản hôm nay (10/7) ghi nhận diễn biến trái chiều giữa các mặt hàng chủ lực. Hồ tiêu tiếp tục phục hồi mạnh, tăng tới 5.000 đồng/kg và đưa giá thu mua lên mức 141.000 đồng/kg tại Đắk Nông. Trong khi đó, giá cà phê giảm sâu theo đà lao dốc của thị trường thế giới, còn lúa gạo duy trì trạng thái giao dịch chậm với giá lúa tươi tăng - giảm đan xen.
Giá hồ tiêu hôm nay: Tăng mạnh tới 5.000 đồng/kg
Thị trường hồ tiêu trong nước tiếp tục nối dài đà phục hồi trong phiên giao dịch ngày 10/7 khi giá thu mua tại các vùng nguyên liệu trọng điểm đồng loạt tăng từ 3.000 - 5.000 đồng/kg so với hôm qua, đưa mặt bằng giá lên 138.000 - 141.000 đồng/kg.
Theo khảo sát, Đắk Nông (nay thuộc tỉnh Lâm Đồng) ghi nhận mức tăng mạnh nhất, thêm 5.000 đồng/kg, lên 141.000 đồng/kg, cao nhất cả nước. Đắk Lắk cũng tăng 4.000 đồng/kg, đạt 140.000 đồng/kg.
Tại khu vực Đông Nam Bộ, giá tiêu ở TP.HCM (khu vực trước đây là Bà Rịa - Vũng Tàu) tăng 4.000 đồng/kg, lên 139.000 đồng/kg, trong khi Đồng Nai cũng tăng mạnh lên 138.000 đồng/kg. Gia Lai ghi nhận mức tăng thấp hơn, thêm 3.000 đồng/kg, đạt 138.000 đồng/kg.
Như vậy, chỉ sau hai phiên giao dịch, giá hồ tiêu trong nước đã phục hồi đáng kể. Trước đó, trong ngày 9/7, thị trường đồng loạt tăng khoảng 1.000 đồng/kg, lên vùng 134.000 - 136.000 đồng/kg. Đến phiên hôm nay, đà tăng được mở rộng với biên độ mạnh hơn, giúp thị trường nhanh chóng rời xa vùng đáy khoảng 133.000 - 135.000 đồng/kg thiết lập vào đầu tháng 7.
Theo giới kinh doanh, diễn biến tăng giá phản ánh tâm lý giữ hàng của nông dân trong bối cảnh nguồn cung không còn dồi dào, trong khi kỳ vọng nhu cầu xuất khẩu sẽ cải thiện trong thời gian tới.
Trên thị trường thế giới, giá hồ tiêu vẫn duy trì ổn định. Theo Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế (IPC), tiêu đen Indonesia được niêm yết ở mức 7.121 USD/tấn, tiêu đen Brazil loại ASTA 570 giữ ở 5.900 USD/tấn, còn tiêu đen Malaysia ổn định tại 9.350 USD/tấn.
Đối với Việt Nam, giá tiêu đen xuất khẩu loại 500 g/l và 550 g/l tiếp tục dao động trong khoảng 6.100 - 6.200 USD/tấn. Ở phân khúc tiêu trắng, tiêu trắng Muntok của Indonesia giữ ở 9.253 USD/tấn, tiêu trắng Malaysia ở 12.250 USD/tấn, còn tiêu trắng xuất khẩu của Việt Nam duy trì 9.000 USD/tấn.
Diễn biến này cho thấy thị trường quốc tế vẫn khá thận trọng, trong khi giá tiêu trong nước đang phản ứng mạnh hơn trước những thay đổi về nguồn cung và kỳ vọng nhu cầu phục hồi.
Giá cà phê hôm nay: Giảm mạnh theo thị trường thế giới
Trái ngược với hồ tiêu, giá cà phê trong nước tiếp tục giảm sâu trong phiên 10/7, bám sát xu hướng lao dốc trên các sàn giao dịch quốc tế.
Theo khảo sát tại khu vực Tây Nguyên, giá cà phê đồng loạt giảm 2.500 đồng/kg so với hôm qua, đưa mặt bằng thu mua xuống còn 91.700 - 92.300 đồng/kg. Đây là phiên giảm mạnh thứ hai liên tiếp sau đợt tăng đột biến đầu tuần.
Đắk Nông (Lâm Đồng) và Gia Lai hiện cùng được thu mua ở mức 92.300 đồng/kg, cao nhất khu vực. Đắk Lắk giảm còn 92.200 đồng/kg, trong khi Lâm Đồng tiếp tục là địa phương có giá thấp nhất với 91.700 đồng/kg.
So với mức đỉnh ngắn hạn 97.000 đồng/kg ghi nhận tại Đắk Nông trong phiên 8/7, giá cà phê hiện đã giảm khoảng 4.700 đồng/kg, cho thấy thị trường đang trải qua giai đoạn biến động rất mạnh sau nhịp tăng nóng.
Trên thị trường thế giới, giá cà phê tiếp tục chịu áp lực bán mạnh. Tại sàn London, hợp đồng robusta giao tháng 7/2026 giảm 303 USD/tấn (7,46%), xuống còn 3.761 USD/tấn. Hợp đồng giao tháng 9 giảm 131 USD/tấn, còn 3.741 USD/tấn, trong khi hợp đồng tháng 11 lùi về 3.712 USD/tấn.
Đáng chú ý, chỉ sau hai phiên giao dịch, giá robusta đã mất khoảng 303 USD/tấn, gần như xóa sạch mức tăng 328 USD/tấn ghi nhận trong phiên bùng nổ đầu tuần. Theo giới phân tích, sau khi lực mua đầu cơ suy yếu, áp lực chốt lời cùng kỳ vọng nguồn cung cải thiện đã nhanh chóng kéo thị trường quay đầu giảm.
Xu hướng tương tự cũng diễn ra trên sàn New York. Hợp đồng arabica giao tháng 7 giảm còn 324,25 US cent/pound, hợp đồng tháng 9 giảm xuống 309,8 US cent/pound, còn hợp đồng tháng 12 lùi về 297,25 US cent/pound. Riêng hợp đồng tháng 9 đã mất hơn 40 US cent/pound chỉ sau hai phiên gần nhất.
Giá lúa gạo hôm nay: Lúa tươi tăng - giảm trái chiều
Thị trường lúa gạo ngày 10/7 tiếp tục duy trì trạng thái giao dịch chậm tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, trong khi giá lúa tươi ghi nhận diễn biến trái chiều giữa các chủng loại.
Theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, lúa Đài Thơm 8 tăng 150 đồng/kg, lên mức 6.450 - 6.600 đồng/kg. Lúa IR 50404 và OM 34 cùng tăng 100 đồng/kg, lần lượt đạt 5.700 - 5.800 đồng/kg và 5.600 - 5.700 đồng/kg.
Ở chiều ngược lại, lúa OM 18 giảm 100 đồng/kg, còn 6.300 - 6.500 đồng/kg, trong khi lúa OM 5451 tiếp tục ổn định ở mức 5.700 - 5.800 đồng/kg.
Tại nhiều địa phương như An Giang, Cần Thơ, Cà Mau, Vĩnh Long và Tây Ninh, hoạt động mua bán vẫn diễn ra cầm chừng, lượng giao dịch mới chưa nhiều nên giá lúa chỉ biến động nhẹ.
Đối với mặt hàng gạo, giá nguyên liệu nhìn chung ổn định. Gạo IR 504 dao động 8.950 - 9.050 đồng/kg, gạo CL 555 ở mức 9.400 - 9.500 đồng/kg, OM 5451 giữ 9.500 - 9.600 đồng/kg, còn Đài Thơm 8 duy trì 9.200 - 9.400 đồng/kg. Gạo thành phẩm IR 504 tiếp tục được giao dịch trong khoảng 10.750 - 10.900 đồng/kg.
Nhóm phụ phẩm cũng không có nhiều biến động khi giá tấm thơm dao động 8.000 - 8.100 đồng/kg, còn cám giữ ở mức 7.950 - 8.100 đồng/kg.
Tại thị trường bán lẻ, giá gạo tiếp tục ổn định. Gạo Nàng Nhen vẫn có giá cao nhất khoảng 28.000 đồng/kg; gạo Hương Lài và gạo Nhật cùng ở mức 22.000 đồng/kg; gạo thơm Thái hạt dài dao động 20.000 - 22.000 đồng/kg; gạo Jasmine 16.000 - 17.000 đồng/kg; gạo Nàng Hoa khoảng 21.000 đồng/kg.
Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo Việt Nam tiếp tục giữ ổn định. Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), gạo Jasmine được chào bán ở mức 513 - 517 USD/tấn, gạo thơm 5% tấm dao động 510 - 520 USD/tấn, còn gạo thơm 100% tấm ở mức 348 - 352 USD/tấn.
Trong khi đó, gạo 5% tấm của Thái Lan được giao dịch trong khoảng 478 - 482 USD/tấn, còn gạo cùng loại của Ấn Độ duy trì ở mức 350 - 354 USD/tấn, cho thấy gạo thơm Việt Nam vẫn giữ lợi thế cạnh tranh ở phân khúc chất lượng cao trên thị trường quốc tế.
PV