11:15 06/07/2026

Giá nông sản hôm nay 6/7: Cà phê giữ vùng giá cao, hồ tiêu chạm đáy khoảng một năm

Giá nông sản hôm nay 6/7, giá cà phê tiếp tục duy trì ở vùng cao nhờ nguồn cung hạn chế và lo ngại thời tiết tại Brazil, trong khi hồ tiêu vẫn ở mức thấp nhất khoảng một năm sau tuần giảm mạnh. Đối với mặt hàng lúa gạo, thị trường Đồng bằng sông Cửu Long nhìn chung ổn định, còn gạo xuất khẩu Việt Nam tiếp tục giữ lợi thế ở phân khúc gạo thơm dù chịu sức ép cạnh tranh ở nhóm gạo phổ thông.

Giá cà phê giữ vùng cao, thị trường tiếp tục theo dõi tiến độ thu hoạch tại Brazil

Giá cà phê trong nước hôm nay tiếp tục duy trì ở vùng cao sau khi kết thúc tuần giao dịch với mức tăng khoảng 2.900-3.000 đồng/kg. Hiện giá thu mua tại khu vực Tây Nguyên dao động từ 92.300-93.000 đồng/kg, đánh dấu mức cao nhất trong hơn ba tháng trở lại đây.

Trong đó, Đắk Nông tiếp tục là địa phương có giá cao nhất với 93.000 đồng/kg, tăng 3.000 đồng/kg so với cuối tuần trước. Đắk Lắk và Gia Lai cùng được thu mua ở mức 92.800 đồng/kg, trong khi Lâm Đồng đạt 92.300 đồng/kg, tăng 2.900 đồng/kg.

Theo giới kinh doanh, sau nhiều tuần dao động quanh vùng 89.000-90.000 đồng/kg, thị trường cà phê nội địa đã phục hồi rõ nét nhờ giá thế giới tăng mạnh, trong khi lượng cà phê còn lại trong dân không còn nhiều, tạo lực đỡ cho giá thu mua.

Giá nông sản hôm nay 67 Cà phê giữ vùng giá cao hồ tiêu chạm đáy khoảng một năm thị trường gạo ổn định

Trên thị trường quốc tế, cả hai sàn giao dịch chủ chốt đều ghi nhận mức tăng đáng kể trong tuần qua. Giá robusta trên sàn London tăng từ 2-3%, trong khi giá arabica trên sàn New York tăng gần 10%.

Theo Reuters, diễn biến thời tiết tại Brazil tiếp tục là yếu tố được thị trường đặc biệt quan tâm. Những cơn mưa trái mùa đang ảnh hưởng đến tiến độ thu hoạch, đồng thời làm gia tăng lo ngại về chất lượng vụ cà phê mới.

Công ty tư vấn nông nghiệp Safras & Mercado cho biết, tính đến ngày 1/7, nông dân Brazil mới thu hoạch được 52% diện tích cà phê niên vụ 2026-2027, thấp hơn mức 60% cùng kỳ năm ngoái và chậm hơn mức trung bình 55% của 5 năm gần đây. Riêng đối với cà phê arabica, tiến độ thu hoạch đạt 42%, thấp hơn mức 50% cùng kỳ năm trước.

Các chuyên gia cho rằng, dù tốc độ thu hoạch đã được cải thiện so với tuần trước, nguồn cung thực tế ra thị trường vẫn chưa tăng ngay do cà phê cần thêm thời gian phơi sấy và chế biến trước khi xuất bán.

Một yếu tố khác đang hỗ trợ giá là tâm lý găm hàng của nông dân Brazil. Sau hai năm giá cà phê duy trì ở mức cao, nhiều hộ trồng đã có nền tảng tài chính tốt hơn nên không chịu áp lực bán ngay sau thu hoạch, mà lựa chọn chờ mức giá kỳ vọng cao hơn.

Trong nước, nguồn cung cũng đang dần thu hẹp khi phần lớn nông dân đã bán lượng tồn kho từ nhiều tháng trước. Trong khi đó, nguồn hàng từ Indonesia chưa thực sự dồi dào do vụ thu hoạch mới chỉ bắt đầu.

Theo số liệu của Cục Thống kê, trong 6 tháng đầu năm 2026, Việt Nam xuất khẩu khoảng 1,054 triệu tấn cà phê, tăng 7,3% so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, kim ngạch chỉ đạt khoảng 4,8 tỷ USD, giảm 13,8% do giá xuất khẩu bình quân thấp hơn cùng kỳ năm 2025.

Hồ tiêu xuống vùng thấp nhất khoảng một năm, xuất khẩu nửa đầu năm vẫn tăng

Trái ngược với cà phê, giá hồ tiêu trong nước tiếp tục duy trì ở vùng thấp sau khi giảm 3.000-4.000 đồng/kg trong tuần trước, đưa mặt bằng giá về mức thấp nhất trong khoảng một năm.

Hiện giá tiêu tại các vùng trồng trọng điểm dao động từ 133.000-135.000 đồng/kg.

Đắk Lắk và Đắk Nông là hai địa phương có mức giá cao nhất, cùng đạt 135.000 đồng/kg. Gia Lai và Bà Rịa - Vũng Tàu phổ biến ở mức 134.000 đồng/kg, còn Đồng Nai duy trì mức thấp nhất là 133.000 đồng/kg.

Theo các doanh nghiệp, mặc dù giá giảm khá mạnh trong thời gian ngắn, nguồn cung dài hạn vẫn chưa rơi vào tình trạng dư thừa. Sau khi kết thúc vụ thu hoạch năm 2026, nhiều nông dân tiếp tục giữ hàng với kỳ vọng giá sẽ cải thiện vào những tháng cuối năm.

Giá nông sản hôm nay 67 Cà phê giữ vùng giá cao hồ tiêu chạm đáy khoảng một năm thị trường gạo ổn định

Trên thị trường thế giới, giá hồ tiêu tuần qua gần như không có nhiều biến động. Giá tiêu đen Indonesia tiếp tục ở mức 7.121 USD/tấn, tiêu đen Brazil khoảng 5.900 USD/tấn, tiêu đen Malaysia đạt 9.350 USD/tấn. Đối với Việt Nam, giá tiêu đen xuất khẩu loại 500 g/l và 550 g/l tiếp tục dao động quanh 6.100-6.200 USD/tấn, trong khi tiêu trắng duy trì khoảng 9.000 USD/tấn.

Theo Hiệp hội Hồ tiêu và cây gia vị Việt Nam (VPSA), trong tháng 6/2026, Việt Nam xuất khẩu 23.103 tấn hồ tiêu, đạt kim ngạch 151,3 triệu USD, giảm 8,2% về lượng và 8,9% về giá trị so với tháng trước. Tính chung 6 tháng đầu năm, cả nước xuất khẩu 145.686 tấn hồ tiêu, đạt 940,5 triệu USD, tăng 17,4% về lượng và 10,6% về giá trị so với cùng kỳ năm ngoái.

Trong cơ cấu thị trường, châu Á tiếp tục là khu vực tiêu thụ lớn nhất, chiếm gần 46% tổng lượng xuất khẩu. Mỹ vẫn là thị trường đơn lẻ lớn nhất với hơn 35.300 tấn, tăng gần 29% so với cùng kỳ, trong khi xuất khẩu sang Trung Quốc tăng mạnh tới 64%.

Các chuyên gia nhận định, trong ngắn hạn, giá hồ tiêu sẽ tiếp tục chịu tác động từ nguồn cung vụ mới tại Brazil, điều kiện thời tiết ở Indonesia và Ấn Độ cũng như nhu cầu nhập khẩu trên thị trường thế giới. Tuy nhiên, do nguồn cung toàn cầu chưa thực sự dư thừa, thị trường vẫn có cơ hội phục hồi nếu nhu cầu xuất khẩu cải thiện hoặc xuất hiện các yếu tố bất lợi về thời tiết.

Giá lúa gạo ổn định, gạo thơm Việt Nam tiếp tục giữ lợi thế xuất khẩu

Tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, giá lúa gạo hôm nay nhìn chung không có nhiều biến động. Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, lúa tươi IR50404 hiện dao động từ 5.400-5.600 đồng/kg, Đài Thơm 8 ở mức 6.200-6.400 đồng/kg, OM18 khoảng 6.200-6.300 đồng/kg, OM5451 từ 5.700-5.800 đồng/kg.

Ở mặt hàng gạo nguyên liệu, gạo IR504 phục vụ xuất khẩu được giao dịch quanh 8.800-8.900 đồng/kg, OM5451 ở mức 9.500-9.600 đồng/kg, còn Đài Thơm 8 dao động 9.200-9.400 đồng/kg.

Thị trường bán lẻ cũng duy trì ổn định. Gạo Nàng Nhen vẫn có mức giá cao nhất khoảng 28.000 đồng/kg, gạo Hương Lài khoảng 22.000 đồng/kg, gạo Jasmine từ 16.000-17.000 đồng/kg, trong khi gạo trắng thông dụng phổ biến ở mức 16.000 đồng/kg.

Giá nông sản hôm nay 67 Cà phê giữ vùng giá cao hồ tiêu chạm đáy khoảng một năm thị trường gạo ổn định

Trên thị trường xuất khẩu, gạo thơm Việt Nam tiếp tục duy trì lợi thế về giá trị. Gạo Jasmine được chào bán ở mức 516-520 USD/tấn, còn gạo thơm 5% tấm đạt 500-510 USD/tấn.

Trong khi đó, gạo trắng 5% tấm của Thái Lan dao động 478-482 USD/tấn, Pakistan ở mức 408-412 USD/tấn, còn Ấn Độ chỉ khoảng 350-354 USD/tấn, cho thấy áp lực cạnh tranh vẫn tập trung ở phân khúc gạo phổ thông.

Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, 6 tháng đầu năm 2026, Việt Nam ước xuất khẩu khoảng 5 triệu tấn gạo, đạt kim ngạch 2,36 tỷ USD, tăng 5,7% về lượng nhưng giảm 3,3% về giá trị so với cùng kỳ năm trước. Giá xuất khẩu bình quân đạt khoảng 473,6 USD/tấn, giảm 8,6%.

Philippines tiếp tục là thị trường nhập khẩu gạo lớn nhất của Việt Nam. Trong nhóm 15 thị trường xuất khẩu chủ lực, Trung Quốc ghi nhận mức tăng trưởng cao nhất, gần 60%, trong khi Bờ Biển Ngà là thị trường giảm mạnh nhất.

Theo đánh giá của giới chuyên môn, trong thời gian tới, gạo thơm và gạo chất lượng cao của Việt Nam vẫn có lợi thế cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Tuy nhiên, ở phân khúc gạo phổ thông, áp lực cạnh tranh về giá từ Ấn Độ và Pakistan sẽ tiếp tục là thách thức đối với hoạt động xuất khẩu.

Trung Anh