Giá nông sản hôm nay 11/7 ghi nhận diễn biến tích cực ở hai mặt hàng chủ lực là hồ tiêu và cà phê. Trong khi giá hồ tiêu tiếp tục duy trì vùng cao sau nhịp tăng mạnh trước đó thì giá cà phê bất ngờ bứt phá hơn 6.000 đồng/kg, vượt mốc 98.000 đồng/kg. Đối với thị trường lúa gạo, giao dịch trong nước vẫn diễn ra chậm, giá phần lớn ổn định, riêng gạo Đài Thơm tăng nhẹ tại kênh bán lẻ.
Hồ tiêu giữ vững vùng giá cao, kỳ vọng tích cực trong nửa cuối năm
Thị trường hồ tiêu trong nước sáng 11/7 tiếp tục đi ngang sau phiên tăng mạnh ngày 10/7. Giá thu mua tại các vùng nguyên liệu trọng điểm dao động từ 138.000 - 141.000 đồng/kg, duy trì mặt bằng cao nhất kể từ đầu tháng.
Đắk Nông (nay thuộc tỉnh Lâm Đồng) tiếp tục dẫn đầu cả nước với mức 141.000 đồng/kg. Đắk Lắk được thu mua ở mức 140.000 đồng/kg, trong khi khu vực Bà Rịa - Vũng Tàu (nay thuộc TP.HCM) đạt 139.000 đồng/kg. Gia Lai và Đồng Nai cùng giữ mức 138.000 đồng/kg, thấp nhất trong nhóm địa phương khảo sát.
Sau khi tăng từ 3.000 - 5.000 đồng/kg trong phiên trước, thị trường bước vào giai đoạn tích lũy. Tuy nhiên, mặt bằng giá hiện vẫn cao hơn đáng kể so với đầu tháng 7, thời điểm hồ tiêu chỉ dao động quanh ngưỡng 133.000 - 135.000 đồng/kg.
Việc giá duy trì ổn định ở vùng cao cho thấy lượng hàng bán ra chưa tăng mạnh, trong khi các doanh nghiệp xuất khẩu vẫn tiếp tục thu mua nguyên liệu để thực hiện các hợp đồng đã ký.
Trên thị trường quốc tế, giá hồ tiêu tại các quốc gia sản xuất lớn hầu như không có biến động. Theo Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế (IPC), tiêu đen Indonesia được giao dịch ở mức 7.121 USD/tấn; tiêu đen Brazil loại ASTA 570 giữ ở mức 5.900 USD/tấn; tiêu đen Malaysia đạt 9.350 USD/tấn.
Đối với Việt Nam, giá tiêu đen xuất khẩu loại 500 g/l và 550 g/l tiếp tục dao động trong khoảng 6.100 - 6.200 USD/tấn. Ở phân khúc tiêu trắng, Indonesia niêm yết 9.253 USD/tấn, Việt Nam ở mức 9.000 USD/tấn và Malaysia giữ 12.250 USD/tấn.
Diễn biến ổn định trên thị trường thế giới cho thấy nguồn cung toàn cầu chưa tạo áp lực giảm giá, trong khi nguồn hàng trong nước đang dần thu hẹp, góp phần củng cố kỳ vọng tích cực đối với thị trường hồ tiêu trong những tháng cuối năm.
Cà phê bật tăng hơn 6.000 đồng/kg, vượt mốc 98.000 đồng
Sau hai phiên giảm sâu, thị trường cà phê trong nước bất ngờ đảo chiều tăng mạnh trong phiên 11/7. Giá thu mua tại khu vực Tây Nguyên đồng loạt tăng từ 6.000 - 6.100 đồng/kg, đưa mặt bằng giao dịch lên 97.900 - 98.400 đồng/kg - mức cao nhất trong hơn 5 tháng.
Đắk Nông (nay thuộc tỉnh Lâm Đồng) tiếp tục là địa phương có giá thu mua cao nhất cả nước với 98.400 đồng/kg, tăng 6.100 đồng/kg so với hôm trước. Gia Lai tăng lên 98.300 đồng/kg, Đắk Lắk đạt 98.200 đồng/kg, còn Lâm Đồng tăng lên 97.900 đồng/kg.
Đáng chú ý, chỉ một ngày trước đó giá cà phê vẫn dao động quanh vùng 91.700 - 92.300 đồng/kg. Như vậy, chỉ sau một phiên giao dịch, thị trường không chỉ lấy lại toàn bộ mức giảm mà còn vượt đỉnh ngắn hạn được thiết lập đầu tuần.
Đà tăng trong nước được hỗ trợ bởi diễn biến tích cực trên các sàn giao dịch quốc tế. Tại London, giá cà phê robusta hợp đồng giao tháng 9/2026 tăng 302 USD/tấn, tương đương 8,07%, lên 4.043 USD/tấn. Hợp đồng tháng 11 tăng 290 USD/tấn, đạt 4.002 USD/tấn, đánh dấu việc các kỳ hạn chủ chốt quay trở lại trên mốc 4.000 USD/tấn.
Trên sàn New York, giá cà phê arabica cũng ghi nhận mức tăng rất mạnh. Hợp đồng giao tháng 9/2026 tăng 38,1 US cent/pound, tương đương 12,3%, lên 347,9 US cent/pound. Hợp đồng giao tháng 12 tăng 30,9 US cent/pound, đạt 328,2 US cent/pound.
Theo Reuters, đây là một trong những tuần biến động mạnh nhất của thị trường cà phê trong nhiều tháng khi giá liên tục tăng, giảm với biên độ lớn dưới tác động của lo ngại về thời tiết, tiến độ thu hoạch tại Brazil và dòng tiền đầu cơ quay trở lại thị trường.
Lúa gạo giao dịch chậm, gạo Đài Thơm tăng giá bán lẻ
Thị trường lúa gạo hôm nay nhìn chung vẫn duy trì trạng thái ổn định. Giao dịch tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long diễn ra chậm khi cả nông dân và thương lái tiếp tục giữ tâm lý thận trọng.
Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, giá lúa tươi Đài Thơm 8 dao động từ 6.450 - 6.600 đồng/kg; lúa OM 18 ở mức 6.300 - 6.500 đồng/kg; lúa IR 50404 đạt 5.700 - 5.800 đồng/kg; lúa OM 34 dao động 5.600 - 5.700 đồng/kg; còn lúa OM 5451 giữ mức 5.700 - 5.800 đồng/kg.
Tại nhiều địa phương như An Giang, Đồng Tháp, Cần Thơ, Cà Mau, Vĩnh Long và Tây Ninh, giao dịch mua bán vẫn diễn ra chậm, song giá lúa tiếp tục được giữ vững nhờ tâm lý neo giá của người dân.
Ở nhóm gạo nguyên liệu, IR 504 được giao dịch trong khoảng 8.950 - 9.050 đồng/kg; CL 555 dao động 9.400 - 9.500 đồng/kg; OM 5451 ở mức 9.500 - 9.600 đồng/kg; OM 18 đạt 8.700 - 8.850 đồng/kg; Đài Thơm 8 dao động 9.200 - 9.400 đồng/kg. Gạo nguyên liệu OM 380 và Sóc Thơm cùng giữ mức 7.500 - 7.600 đồng/kg, trong khi gạo thành phẩm IR 504 dao động khoảng 10.750 - 10.900 đồng/kg.
Đối với phụ phẩm, giá tấm thơm ở mức 8.100 - 8.200 đồng/kg, còn cám dao động từ 7.950 - 8.100 đồng/kg.
Tại thị trường bán lẻ, gạo Đài Thơm tăng thêm 500 đồng/kg lên mức 15.000 - 15.500 đồng/kg. Các mặt hàng còn lại nhìn chung ổn định, trong đó gạo Nàng Nhen vẫn có giá cao nhất khoảng 28.000 đồng/kg; gạo Hương Lài ở mức 22.000 đồng/kg; gạo thơm Thái hạt dài dao động 20.000 - 22.000 đồng/kg; gạo Jasmine từ 16.000 - 17.000 đồng/kg; gạo Nàng Hoa khoảng 21.000 đồng/kg; gạo trắng thông dụng ở mức 16.000 đồng/kg và gạo thường dao động từ 13.000 - 14.000 đồng/kg.
Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo Việt Nam tiếp tục đi ngang. Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), gạo Jasmine được chào bán ở mức 513 - 517 USD/tấn; gạo thơm 5% tấm dao động 510 - 520 USD/tấn; gạo thơm 100% tấm ở mức 348 - 352 USD/tấn.
Trong khi đó, gạo 5% tấm của Thái Lan dao động 478 - 482 USD/tấn, còn gạo 5% tấm của Ấn Độ ở mức 350 - 354 USD/tấn. Mặt bằng giá này tiếp tục giúp gạo thơm Việt Nam duy trì lợi thế cạnh tranh ở phân khúc chất lượng cao trên thị trường quốc tế.
PV