Thị trường nông sản ngày 13/7 ghi nhận diễn biến trái chiều giữa các mặt hàng chủ lực. Giá cà phê tiếp tục duy trì đà tăng cả trên thị trường thế giới và trong nước trước lo ngại nguồn cung chịu tác động của hiện tượng El Niño. Giá hồ tiêu cũng tăng mạnh tại các vùng nguyên liệu nhờ nguồn hàng khan hiếm, trong khi thị trường lúa gạo khu vực Đồng bằng sông Cửu Long ít biến động.
Giá cà phê dy trì đà tăng trước lo ngại thiếu hụt nguồn cung
Giá cà phê thế giới khép lại tuần giao dịch với mức tăng mạnh. Trên sàn London, hợp đồng cà phê robusta giao tháng 9/2026 tăng 3,7%, lên 3.852 USD/tấn; hợp đồng tháng 11 tăng 3,8%, đạt 3.819 USD/tấn. Trên sàn New York, cà phê arabica giao tháng 9 tăng tới 11%, lên 334,25 US cent/pound, trong khi kỳ hạn tháng 12 tăng 10,4%, lên 316 US cent/pound.
Theo Bloomberg, thị trường đang phản ứng trước khả năng hiện tượng El Niño năm nay có thể thuộc nhóm mạnh nhất trong hơn 75 năm qua. Trung tâm Dự báo Khí hậu Mỹ cho rằng diễn biến thời tiết cực đoan có thể ảnh hưởng đáng kể đến nguồn cung nhiều loại nông sản, trong đó cà phê là một trong những mặt hàng chịu tác động rõ nhất.
Bên cạnh yếu tố thời tiết, thị trường còn chịu ảnh hưởng bởi lượng tồn kho arabica tại các kho được ICE giám sát liên tục giảm trong 12 phiên gần đây xuống mức thấp nhất kể từ tháng 2/2024, do mưa lớn làm chậm tiến độ thu hoạch tại Brazil. Trong khi đó, hoạt động đầu cơ gia tăng đã khiến ICE liên tiếp nâng mức ký quỹ giao dịch hợp đồng tương lai. Đối với hợp đồng arabica tháng 9, mức ký quỹ đã tăng từ 5.685 USD lên 18.806 USD chỉ sau hơn một tuần.
Chủ tịch Tập đoàn Luigi Lavazza SpA, ông Giuseppe Lavazza nhận định thị trường cần ít nhất hai vụ mùa bội thu cùng sự phục hồi đáng kể của lượng tồn kho toàn cầu thì giá cà phê mới có thể hạ nhiệt. Theo ông, khả năng giá giảm trong vòng hai năm tới là rất thấp.
Số liệu của Tổ chức Cà phê Quốc tế (ICO) cũng cho thấy xuất khẩu cà phê toàn cầu trong tháng 5 chỉ đạt 12,38 triệu bao, thấp hơn mức 12,78 triệu bao cùng kỳ năm trước. Lũy kế tám tháng đầu niên vụ 2025-2026, xuất khẩu đạt 94,82 triệu bao, giảm nhẹ 0,1%.
Tại thị trường trong nước, giá cà phê nhân xô khu vực Tây Nguyên dao động từ 94.700-95.300 đồng/kg. Đắk Nông (nay thuộc tỉnh Lâm Đồng sau sắp xếp đơn vị hành chính) tiếp tục có mức giá cao nhất 95.300 đồng/kg; Đắk Lắk và Gia Lai cùng đạt 95.200 đồng/kg, trong khi Lâm Đồng ở mức 94.700 đồng/kg. So với cuối tuần trước, giá cà phê đã tăng khoảng 2.300-2.400 đồng/kg, đánh dấu tuần tăng thứ ba liên tiếp.
Giá hồ tiêu trong nước tăng mạnh
Giá hồ tiêu trong nước tiếp tục tăng mạnh trong tuần qua khi nguồn cung tại các vùng nguyên liệu ngày càng hạn chế, trong khi nhu cầu thu mua từ các doanh nghiệp xuất khẩu có dấu hiệu cải thiện.
Theo khảo sát, giá hồ tiêu hiện dao động từ 138.000-141.000 đồng/kg, tăng 4.000-6.000 đồng/kg so với cuối tuần trước. Đắk Nông (nay thuộc tỉnh Lâm Đồng) ghi nhận mức tăng mạnh nhất 6.000 đồng/kg, lên 141.000 đồng/kg và tiếp tục là địa phương có giá cao nhất cả nước. Đắk Lắk tăng lên 140.000 đồng/kg; Bà Rịa - Vũng Tàu (nay thuộc TP.HCM) đạt 139.000 đồng/kg, còn Đồng Nai và Gia Lai cùng giao dịch quanh mức 138.000 đồng/kg.
Trái ngược với xu hướng trong nước, giá hồ tiêu xuất khẩu của Việt Nam và nhiều nước sản xuất lớn lại giảm trong tuần qua. Theo Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế (IPC), giá tiêu đen xuất khẩu của Việt Nam giảm khoảng 250 USD/tấn xuống còn 5.850-5.950 USD/tấn đối với loại 500 g/l và 550 g/l. Giá tiêu trắng giảm mạnh hơn, mất khoảng 800 USD/tấn, xuống còn 8.200 USD/tấn.
Tại Indonesia, giá tiêu đen giảm còn 7.079 USD/tấn và tiêu trắng Muntok còn 9.198 USD/tấn. Trong khi đó, giá tiêu đen Brazil vẫn giữ ở mức 5.900 USD/tấn, còn Malaysia tiếp tục duy trì mức 9.350 USD/tấn đối với tiêu đen và 12.250 USD/tấn đối với tiêu trắng.
Theo giới phân tích, việc giá nội địa tăng nhưng giá xuất khẩu giảm phản ánh sự phân hóa giữa thị trường trong nước và quốc tế. Trong bối cảnh nguồn cung toàn cầu chưa thực sự dồi dào, giá hồ tiêu nội địa được dự báo vẫn có thể duy trì ở vùng cao trong ngắn hạn.
Giá lúa gạo xuất khẩu ổn định
Thị trường lúa gạo tại Đồng bằng sông Cửu Long hôm nay nhìn chung ít biến động, hoạt động mua bán diễn ra khá trầm lắng.
Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, giá gạo nguyên liệu IR504 dao động 8.950-9.050 đồng/kg; CL555 ở mức 9.400-9.500 đồng/kg; OM5451 đạt 9.500-9.600 đồng/kg; Đài Thơm 8 từ 9.200-9.400 đồng/kg; OM18 dao động 8.700-8.850 đồng/kg. Gạo thành phẩm IR504 hiện được giao dịch ở mức 10.750-10.900 đồng/kg.
Đối với phụ phẩm, giá tấm thơm dao động 8.100-8.200 đồng/kg, còn cám ở mức 7.950-8.100 đồng/kg.
Tại các chợ bán lẻ, mặt bằng giá gạo hầu như không thay đổi. Gạo Nàng Nhen tiếp tục có giá cao nhất khoảng 28.000 đồng/kg; gạo Hương Lài 22.000 đồng/kg; gạo thơm Thái hạt dài 20.000-22.000 đồng/kg; gạo Jasmine 16.000-17.000 đồng/kg; Đài Thơm 8 ở mức 15.000-15.500 đồng/kg; gạo trắng thông dụng khoảng 16.000 đồng/kg.
Giá lúa tươi cũng ổn định với lúa Đài Thơm 8 ở mức 6.450-6.600 đồng/kg; OM18 từ 6.300-6.500 đồng/kg; IR50404 khoảng 5.700-5.800 đồng/kg; OM5451 dao động 5.700-5.800 đồng/kg.
Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo Việt Nam tiếp tục giữ ổn định. Gạo Jasmine được chào bán ở mức 513-517 USD/tấn; gạo thơm 5% tấm dao động 510-520 USD/tấn; gạo thơm 100% tấm ở mức 348-352 USD/tấn. Trong khi đó, gạo 5% tấm của Thái Lan hiện ở mức 478-482 USD/tấn và của Ấn Độ ở mức 350-354 USD/tấn.
Theo đánh giá của các doanh nghiệp, thương hiệu gạo Việt vẫn duy trì sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Tuy nhiên, trong bối cảnh giao dịch chưa sôi động, nông dân cần tiếp tục chú trọng quản lý chi phí sản xuất và nâng cao chất lượng hạt gạo để đảm bảo hiệu quả kinh tế.
Trung Anh