15:56 08/06/2022

Hơn 50% doanh nghiệp phát hành trái phiếu riêng lẻ không có tài sản đảm bảo

Trong báo cáo báo cáo về tình hình thị trường trái phiếu doanh nghiệp năm 2021 và quý I/2022 mà Bộ Tài chính gửi tới Thủ tướng, cơ quan này cho biết, trong tổng số trái phiếu doanh nghiệp phát hành riêng lẻ có tài sản đảm bảo chiếm 49,7%; trái phiếu không có tài sản đảm bảo chiểm 50,3%.

Hơn 50 doanh nghiệp phát hành trái phiếu riêng lẻ không có tài sản đảm bảo
Hơn 50% doanh nghiệp phát hành trái phiếu riêng lẻ không có tài sản đảm bảo

Thống kê của Bộ Tài chính cho biết năm 2021, tổng khổi lượng phát hành trái phiếu doanh nghiệp đạt 639.766 tỷ đồng, tăng 38% so với năm 2020. Quy mô thị trường đến cuối năm 2021 tương đương 18,2% GDP, tăng 42,4% so với cuối năm 2020 (17,11%).

Trong đó, tổ chức tín dụng là nhóm doanh nghiệp phát hành lớn nhất, với 36,18% tổng khổi lượng phát hành. Tiếp đến là doanh nghiệp bất động sản chiếm 33,16% khổi lượng phát hành. Các doanh nghiệp thương mại dịch vụ, sản xuất và xây dựng chiếm lần lượt 5,5%, 4,59%, 3,19% tổng khối lượng phát hành.

Các doanh nghiệp phát hành trái phiếu chủ yếu để tăng vốn hoạt động, chiếm 44,49%; 19,10% trái phiếu phát hành để thực hiện dự án; 4,52% được sử dụng cho mục đích cơ cấu lại nguồn vốn; 29,29% khối lượng trái phiếu phát hành được sử dụng kết hợp các mục đích phát hành trên.

Về tài sản đảm bảo và bảo lãnh thanh toán, trong năm 2021, trái phiếu doanh nghiệp phát hành riêng lẻ có tài sản đảm bảo chiếm 49,7%; trái phiếu không có tài sản đảm bảo chiểm 50,3%. Đáng chú ý, đối với trái phiếu doanh nghiệp phát hành ra công chúng, chủ yếu là không có tài sản đảm bảo, chiếm 99% tổng khối lượng phát hành.

Trên thị trường sơ cấp, các nhà đầu tư trong nước mua 98,55% khối lượng trái phiếu doanh nghiệp phát hành riêng lẻ; nhà đầu tư nước ngoài chiếm 1,45%.

Theo đánh giá của Bộ Tài chính, thị trường trái phiếu doanh nghiệp vẫn tiếp tục là kênh huy động vốn quan trọng của doanh nghiệp, đáp ứng nhu cầu vốn trung và dài hạn cho nhiều lĩnh vực (sản xuất, thương mại, dịch vụ, năng lượng...).

Mặc dù nền kinh tế chịu ảnh hưởng lớn của dịch bệnh, các doanh nghiệp vẫn lựa chọn kênh phát hành trái phiếu để huy động vốn với khối lượng phát hành tăng 40,36% so với năm 2020. Khối lượng đăng ký chào bán trái phiếu doanh nghiệp ra công chúng năm 2021 tăng cao nhất từ trước tới nay, đạt 51.125 tỷ đồng, tăng 51,8% so với năm 2020; khối lượng phát hành thực tế tăng 11,8%, chiếm 5,3% tổng khối lượng phát hành. Trong quý I/2022, các doanh nghiệp đã chào bán 5.486 tỷ đồng trái trái phiếu doanh nghiệp ra công chúng.

Mặc dù vậy, thị trường trái trái phiếu doanh nghiệp năm 2021 còn xuất hiện những vấn đề mới, có thể là các rủi ro đối với sự phát triển của thị trường.

Theo đó, về nhà đầu tư trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ, mặc dù trên thị trường sơ cấp, tỷ trọng nhà đầu tư cá nhân mua trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ giảm mạnh so với năm 2020, nhưng trên thị trường thứ cấp tỷ trọng mua của các nhà đầu tư cá nhân lên tới mức 19% tổng khối lượng phát hành.

Để chào mời, mua trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ cho nhà đầu tư cá nhân, thị trường đã xuất hiện nhiều cách thức "lách" quy định của pháp luật về nhà đầu tư chứng khoán riêng lẻ.

Cụ thể, nhà đầu tư cá nhân được xác nhận là nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp (hiệu lực trong vòng 1 năm) bằng hợp đồng mua kỳ hạn trái phiếu Chính phủ hoặc chứng khoán niêm yết trong thời gian từ 2 - 4 ngày; nhà đầu tư cá nhân sử dụng tài khoản vay ký quỹ để chứng minh danh mục chứng khoán niêm yết đang nắm giữ có giá trị trên 2 tỷ đồng nhưng thực tế số vốn tự có thấp hơn; cá nhân không trực tiếp đứng tên mua trái phiếu mà ký hợp đồng dân sự với công ty chứng khoán, ngân hàng thương mại hoặc doanh nghiệp khác để mua trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ.

Ngoài ra, báo cáo cũng cho thấy, trong số 358 doanh nghiệp phát hành trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ năm 2021, có 57 doanh nghiệp phát hành có kết quả kinh doanh lỗ trước khi phát hành; 45 doanh nghiệp có hệ số nợ trên vốn chủ sở hữu lớn hơn 10 và 10 doanh nghiệp phát hành có tỷ lệ khối lượng phát hành gấp trên 5 lần vốn chủ sở hữu.

Một số doanh nghiệp phát hành để góp vốn, mua cổ phần, mua trái phiếu của doanh nghiệp khác hoặc cho doanh nghiệp khác vay vốn; hoặc phát hành để chuyển vốn "lòng vòng" nhằm lách quy định về giới hạn cho vay/đầu tư trái phiếu doanh nghiệp của tổ chức tín dụng đối với 1 khách hàng/nhóm khách hàng.

Phạm Minh