Xu hướng chuyển đổi mô hình khu công nghiệp (KCN) truyền thống sang KCN xanh đã trở thành yêu cầu bắt buộc nhằm đáp ứng các tiêu chuẩn toàn cầu đồng thời thu hút dòng vốn FDI chất lượng cao.
Yêu cầu quan trọng
Phát biểu tại hội thảo “Xanh hóa Khu công nghiệp tại Việt Nam”, bà Phan Thu Hằng - Chủ tịch Hội đồng quản trị Hội đồng công trình xanh Việt Nam (VGBC) cho biết, nếu trước đây các nhà đầu tư quan tâm nhiều đến vị trí, hạ tầng hay chi phí thì ngày nay họ càng quan tâm nhiều đến một câu hỏi khác là khu công nghiệp này chỉ có đủ "xanh" để trở thành một sự ảnh hưởng đến các khu vực trên toàn cầu. Đồng thời yêu cầu về ESG, năng lượng tái tạo và khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu đang dần trở thành những cái tiêu chí quan trọng trong quyết định đầu tư.
Theo bà, đối với Việt Nam những điều trên càng trở nên quan trọng bởi vì đây là một trong những quốc gia chịu ảnh hưởng rõ rệt của biến đổi khí hậu khi nắng nóng cực đoan, mưa lớn, ngập lụt hay các rủi ro gián đoạn sự cung ứng, tăng mức độ trực xét đến hoạt động sản xuất và chuỗi giá trị. Do đó, một khu công nghiệp xanh của tương lai không chỉ là KCN năng lượng hay giảm phát thải carbon, đó còn phải là KCN biết sử dụng hạ tầng xanh và thiên nhiên như là một phần của giải pháp chống chịu; cũng như đáp ứng các yêu cầu ngày càng cao của các chủ đầu tư và các định chế tài chính.
"Xanh" trở thành yêu cầu phát triển quan trọng của các KCN
Trong khi đó, ông Douglas Snyder - Giám đốc Điều hành VGBC cho biết, hiện nay, số liệu CBAM của EU cho biết, Việt Nam xuất khẩu khoảng 50 tỷ USD/ năm sang EU (thép, nhôm, xi măng, phân bón). Tuy nhiên, hệ thống giao dịch phát thải của Việt Nam chưa được công nhận cũng như không có dữ liệu phát thải được xác minh. Theo ông Douglas Snyder, để phát triển khu công nghiệp xanh cần tiếp cận theo hướng toàn diện để không chỉ đáp ứng các tiêu chí môi trường mà còn tích hợp các yếu tố về quản trị, trách nhiệm xã hội và hiệu quả kinh tế. Mô hình KCN xanh hướng tới nâng cao khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu thông qua việc sử dụng hiệu quả tài nguyên, tối ưu quản lý năng lượng, nước, chất thải, bảo tồn đa dạng sinh học, cũng như cải thiện chất lượng hạ tầng phục vụ hoạt động sản xuất và đời sống người lao động.
Ông Douglas Snyder - Giám đốc Điều hành VGBC
Một số giải pháp được các chuyên gia đề xuất gồm: Quy hoạch khu công nghiệp theo hướng tăng khả năng chống chịu với biến đổi khí hậu ngay từ giai đoạn đầu; quản lý hiệu quả năng lượng, nước và chất thải nhằm giảm phát thải carbon; phát triển hạ tầng xanh, bảo tồn đa dạng sinh học và tăng diện tích cây xanh. Bên cạnh đó là áp dụng mô hình kinh tế tuần hoàn, tăng tái sử dụng tài nguyên; đẩy mạnh chuyển đổi số để giám sát, quản lý tiêu thụ năng lượng theo thời gian thực và phát triển điện mặt trời, hệ thống lưu trữ năng lượng và cơ chế mua bán điện trực tiếp nhằm tăng tỷ lệ sử dụng điện xanh.
Theo đó, những giải pháp này không chỉ giúp giảm tác động môi trường mà còn nâng cao khả năng thích ứng với thiên tai, giảm rủi ro sản xuất và đáp ứng các yêu cầu ngày càng khắt khe từ các thị trường xuất khẩu.
Vị chuyên gia này cũng chỉ ra rằng hiện nay ban quản lý nhiều KCN vẫn chưa thể tiếp cận đầy đủ dữ liệu phát thải và dữ liệu vận hành của các doanh nghiệp trong khu công nghiệp. Đây là rào cản lớn bởi việc xây dựng chiến lược giảm phát thải, đánh giá ESG hay tiếp cận tài chính xanh đều cần hệ thống dữ liệu minh bạch và có thể kiểm chứng.
Tương lai của khu công nghiệp thông minh
Ông Tim Middleton - Thành viên Hội đồng Quản trị VGBC, Tư vấn cấp cao LOTUS Industrial Park đã giới thiệu hệ thống chứng nhận thí điểm LOTUS Industrial Park (LOTUS IP). Đây là hệ thống chứng nhận khu công nghiệp được xây dựng trên nền tảng khung LOTUS, tham chiếu các tiêu chuẩn quốc tế, đồng thời phù hợp với các quy định pháp luật và điều kiện phát triển tại Việt Nam.
LOTUS IP hướng tới việc cung cấp một bộ tiêu chí toàn diện nhằm đánh giá mức độ bền vững của khu công nghiệp trong cả giai đoạn quy hoạch, xây dựng và vận hành. Hệ thống bao gồm nhiều nhóm tiêu chí như: Quản lý và quản trị, khả năng chống chịu, môi trường khu đất, năng lượng và phát thải carbon, vật liệu và kinh tế tuần hoàn, tài nguyên nước, sức khỏe cộng đồng, hạ tầng xã hội và hiệu quả vận hành. LOTUS IP hứa hẹn sẽ là chứng nhận khu công nghiệp xanh uy tín, đóng vai trò là “thước đo” nhằm thúc đẩy quá trình chuyển đổi bền vững và nâng cao năng lực cạnh tranh cho các khu công nghiệp tại Việt Nam
Ở góc độ thực tiễn, ông Torsten Illgen - Chủ tịch Inros Lackner Vietnam LLC chia sẻ nghiên cứu điển hình về dự án thí điểm Silverlake Hi-tech Biotech Industrial Park - dự án tiên phong áp dụng chứng nhận LOTUS IP, trong đó tập trung vào phương pháp quy hoạch tích hợp ngay từ giai đoạn đầu nhằm kết hợp giữa phát triển hạ tầng, bảo vệ môi trường và tối ưu hiệu quả sử dụng tài nguyên, qua đó hướng tới xây dựng mô hình khu công nghiệp phát triển bền vững.
Dự án thí điểm Silverlake Hi-tech Biotech Industrial Park - dự án tiên phong áp dụng chứng nhận LOTUS IP
Tại đây các chuyên gia cũng chia sẻ giải pháp hỗ trợ quá trình xanh hóa KCN. Theo đó, trong 5 năm tới, có khoảng 50 tỷ thiết bị IoT được kết nối, 80% các tương tác dịch vụ khách được giải quyết tự động bằng AI tác vụ (AI Agents).
Để nắm bắt xu thế đó, mô hình KCN thông minh được giới thiệu trên nền tảng kết hợp điện khí hóa, tự động hóa và số hóa nhằm kết nối thiết bị, thu thập và phân tích dữ liệu vận hành theo thời gian thực, từ đó tối ưu hiệu quả sử dụng năng lượng, nâng cao hiệu suất vận hành và tăng khả năng thích ứng trước các xu hướng mới như trí tuệ nhân tạo, chuyển dịch năng lượng.
Bên cạnh đó, các giải pháp năng lượng tái tạo, bao gồm điện mặt trời, hệ thống lưu trữ năng lượng và cơ chế mua bán điện trực tiếp, được đánh giá là hướng đi hiệu quả để doanh nghiệp tiếp cận nguồn điện xanh với chi phí cạnh tranh, đồng thời đáp ứng các mục tiêu phát triển bền vững và các yêu cầu ngày càng cao về ESG.
Trang Nguyễn