Trong bối cảnh Việt Nam bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu tăng trưởng hai con số, việc tái cơ cấu khu vực doanh nghiệp Nhà nước không chỉ là yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động mà còn là điều kiện quan trọng để khơi thông nguồn lực, tạo động lực cho tăng trưởng.
Doanh nghiệp nhà nước phải có tư duy mới về sắp xếp, chuyển đổi quản trị
Sau gần 40 năm đổi mới, doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) hiện chỉ còn chiếm tỷ trọng nhỏ về số lượng doanh nghiệp, nhưng vẫn đang nắm giữ nguồn lực rất lớn trong nhiều ngành, lĩnh vực then chốt của nền kinh tế.
Nghị quyết số 79 của Bộ Chính trị đã đặt ra yêu cầu tiếp tục cơ cấu lại doanh nghiệp Nhà nước theo hướng tinh gọn, hiệu quả, nâng cao năng lực quản trị, sử dụng hiệu quả nguồn lực và phát huy vai trò dẫn dắt trong các ngành, lĩnh vực chiến lược.
Tuy nhiên, kết quả triển khai trong thời gian qua vẫn còn khoảng cách khá lớn so với mục tiêu đề ra. Theo Bộ Tài chính, trong giai đoạn 2021-2025, cả nước mới cổ phần hóa được 5 doanh nghiệp với tổng giá trị khoảng 643 tỷ đồng.
Đối với công tác sắp xếp doanh nghiệp, trong 8 doanh nghiệp được phê duyệt phương án giai đoạn 2021-2025, có 6 doanh nghiệp đã hoàn thành sáp nhập, 2 doanh nghiệp đang thực hiện giải thể. Về thoái vốn nhà nước, trong tổng số 146 doanh nghiệp thuộc diện phải thoái vốn, mới chỉ có 19 doanh nghiệp hoàn thành, đạt khoảng 13% kế hoạch giai đoạn 2022-2025.
Những con số trên cho thấy quá trình tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước đang đối mặt với nhiều điểm nghẽn cả về cơ chế, chính sách lẫn khâu tổ chức thực hiện. Trong khi đó, yêu cầu phát huy vai trò dẫn dắt của khu vực này đối với tăng trưởng, đầu tư và đổi mới sáng tạo ngày càng trở nên cấp bách.
Tại hội Hội thảo “Tái cơ cấu doanh nghiệp Nhà nước: Từ sắp xếp nguồn lực đến dẫn dắt tăng trưởng” do Báo Tiền Phong tổ chức, ông Nguyễn Đức Hiển - Phó trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương cho rằng, để đạt được các mục tiêu phát triển kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng nhanh, bền vững trong giai đoạn tới, việc xem xét tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước theo cách thức mới rất quan trọng.
Nghị quyết 79 của Bộ Chính trị đã đề ra nhiều tư duy mới, yêu cầu doanh nghiệp nhà nước phải có tư duy mới về sắp xếp, chuyển đổi quản trị để giữ vai trò thật sự dẫn dắt các lĩnh vực then chốt, thiết yếu của đất nước.
Bên cạnh yêu cầu đổi mới tư duy, ông Nguyễn Đức Hiển cho rằng, một trong những nội dung trọng tâm là tiếp tục hoàn thiện thể chế, tháo gỡ các điểm nghẽn để doanh nghiệp nhà nước có đủ quyền tự chủ trong đầu tư, sản xuất, kinh doanh, đồng thời vẫn bảo đảm quản lý chặt chẽ vốn và tài sản nhà nước.
Ông Nguyễn Đức Hiển - Phó trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương (Ảnh: BTC)
Theo ông Nguyễn Đức Hiển, một nội dung rất quan trọng được Nghị quyết số 79-NQ/TW đặt ra là đến năm 2030, 100% doanh nghiệp nhà nước áp dụng tiêu chuẩn quản trị của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Vì thế, cần thay đổi cơ chế đánh giá hiệu quả, chuyển từ dựa vào chỉ tiêu tài chính hằng năm sang đánh giá tổng thể để doanh nghiệp yên tâm đầu tư vào những ngành mạo hiểm, đổi mới sáng tạo, khoa học công nghệ.
Ngoài ra, cần tiếp tục cổ phần hóa, thoái vốn, hợp nhất doanh nghiệp nhà nước theo nguyên tắc, tiêu chí và lộ trình cụ thể. Cần đẩy nhanh việc triển khai cơ cấu toàn diện mô hình hoạt động của Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước (SCIC), tiến tới thành lập Quỹ đầu tư quốc gia để giải quyết các câu chuyện đầu tư và xử lý doanh nghiệp yếu kém nhanh hơn, tránh kéo dài gây lãng phí lớn.
Tập trung nguồn lực vào các ngành, lĩnh vực then chốt
Theo ông Nguyễn Tuấn Linh - đại diện Cục Phát triển Doanh nghiệp Nhà nước, Bộ Tài chính, DNNN tiếp tục giữ vai trò nòng cốt của kinh tế nhà nước, là lực lượng dẫn dắt ở nhiều lĩnh vực then chốt và góp phần ổn định kinh tế vĩ mô. Sau hơn ba thập kỷ sắp xếp, đổi mới, số lượng DNNN đã giảm từ hơn 12.000 doanh nghiệp đầu những năm 1990 xuống còn 695 doanh nghiệp vào cuối năm 2025, trong đó 497 doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn và 198 doanh nghiệp do Nhà nước nắm cổ phần chi phối.
Quy mô tài sản của khối DNNN đạt khoảng 4,5 triệu tỷ đồng, doanh thu gần 2,9 triệu tỷ đồng, đóng góp ngân sách khoảng 390.000 tỷ đồng, tăng đáng kể so với năm 2021.
Tuy nhiên, quá trình cơ cấu lại DNNN vẫn còn nhiều hạn chế. Hiệu quả hoạt động của nhiều doanh nghiệp chưa tương xứng với nguồn lực, mô hình quản trị chậm đổi mới, năng lực đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số còn yếu. Đặc biệt, tiến độ cổ phần hóa, thoái vốn giai đoạn 2021-2025 không đạt mục tiêu đề ra.
Đến hết năm 2025, mới có 180/616 doanh nghiệp hoàn thành xây dựng đề án cơ cấu lại; chưa có doanh nghiệp nào hoàn tất cổ phần hóa, chỉ 17/146 doanh nghiệp thực hiện thoái vốn, trong khi số thu từ cổ phần hóa và thoái vốn chỉ đạt khoảng 3.720 tỷ đồng.
Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ cơ chế phân cấp chưa đủ mạnh, thủ tục đầu tư còn phức tạp, công tác chuẩn bị cổ phần hóa thiếu hiệu quả, cùng tâm lý né tránh trách nhiệm của một bộ phận người đứng đầu doanh nghiệp và cơ quan đại diện chủ sở hữu.
Bước sang giai đoạn 2026-2030, việc tái cơ cấu DNNN sẽ được triển khai theo các định hướng mới từ Nghị quyết 79 của Bộ Chính trị, Kết luận 18 của Ban Chấp hành Trung ương và Luật Quản lý và Đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp số 68/2025/QH15.
Trọng tâm là tăng cường phân cấp, trao quyền tự chủ cho doanh nghiệp, tách bạch chức năng quản lý nhà nước với chức năng chủ sở hữu, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, phát huy nguồn lực của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước vào các dự án trọng điểm, đồng thời đổi mới cơ chế cổ phần hóa, thoái vốn theo hướng linh hoạt, gắn với nâng cao hiệu quả quản trị và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
Bà Đoàn Thị Kim Dung - Phó Viện trưởng Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế - tài chính cho biết, Viện được Bộ Tài chính giao chủ trì xây dựng Đề án phát triển kinh tế nhà nước, làm cơ sở tham mưu để Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 79-NQ/TW về phát triển kinh tế nhà nước.
Bà Đoàn Thị Kim Dung - Phó Viện trưởng Viện Chiến lược và Chính sách Kinh tế - Tài chính (Ảnh: BTC)
Theo bà Đoàn Thị Kim Dung, đây là lần đầu tiên có một nghị quyết chuyên đề làm rõ nội hàm và phạm vi của kinh tế nhà nước, trong đó doanh nghiệp nhà nước được xác định là lực lượng nòng cốt, giữ vai trò tiên phong và dẫn dắt.
Việc cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước không chỉ là giảm số lượng hay cổ phần hóa một cách cơ học, mà là quá trình xác định đúng vai trò của doanh nghiệp nhà nước trong tổng thể nền kinh tế nhà nước.
Theo bà Đoàn Thị Kim Dung, mục tiêu cốt lõi là tập trung nguồn lực vào các ngành, lĩnh vực then chốt, đồng thời xử lý dứt điểm những doanh nghiệp hoạt động kém hiệu quả. Theo đó, cần tránh tình trạng sở hữu dàn trải vì dễ làm lẫn lộn giữa mục tiêu kinh doanh với nhiệm vụ công ích, làm giảm kỷ luật tài chính và gia tăng rủi ro cho ngân sách.
Nhà nước chỉ nên trực tiếp sở hữu doanh nghiệp ở những lĩnh vực thực sự cần thiết, còn với các lĩnh vực thị trường có thể đảm nhận thì nên sử dụng các công cụ điều tiết như đặt hàng, đấu thầu hoặc hợp tác công - tư.
Bà Dung cho biết, nghiên cứu của Viện Chiến lược và Chính sách Kinh tế - Tài chính tổng hợp kinh nghiệm từ bốn nhóm quốc gia cho thấy, đối với Trung Quốc, quá trình cải cách tập trung củng cố các doanh nghiệp nhà nước chiến lược, phân loại rõ chức năng, tập trung quyền chủ sở hữu, phát triển các tập đoàn lớn và xử lý các doanh nghiệp nhỏ, yếu kém. Bài học rút ra là cần xác định rõ phạm vi các lĩnh vực chiến lược và kiểm soát hoạt động đầu tư ngoài ngành.
Đối với Singapore và Malaysia, mô hình tổ chức đầu tư được xây dựng theo hướng chuyên nghiệp, quản lý dựa trên hiệu quả của toàn bộ danh mục đầu tư thay vì từng doanh nghiệp riêng lẻ. Đồng thời, cơ quan đại diện chủ sở hữu được chuyên nghiệp hóa và giảm dần kỳ vọng hỗ trợ của Nhà nước trước khi thực hiện bán vốn.
Trong khi đó, New Zealand, Australia, Thụy Điển và Na Uy lựa chọn mô hình tách bạch rõ nhiệm vụ công với mục tiêu kinh doanh. Hội đồng quản trị được trao quyền rõ ràng; doanh nghiệp cạnh tranh bình đẳng với khu vực tư nhân và được đánh giá theo từng mục tiêu cụ thể.
Đối với các nước Đông Âu, quá trình tư nhân hóa gắn với chuyển đổi nền kinh tế luôn đi kèm việc kiểm toán, định giá tài sản và hoàn thiện khung pháp lý trước khi bán vốn nhằm bảo vệ tài sản nhà nước.
Từ những kinh nghiệm trên, Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế - tài chính đề xuất sáu nhóm giải pháp đối với Việt Nam, gồm: xác định rõ mục tiêu sở hữu trước khi quyết định tỷ lệ vốn nhà nước nắm giữ; tiếp tục tách bạch chức năng quản lý nhà nước với chức năng đại diện chủ sở hữu; thực hiện kiểm toán, định giá tài sản đầy đủ trước khi thay đổi chủ sở hữu; duy trì kỷ luật tài chính nghiêm ngặt đối với doanh nghiệp nhà nước; không sáp nhập các doanh nghiệp yếu kém chỉ để che giấu thua lỗ. Đồng thời xây dựng chính sách hỗ trợ người lao động và bảo đảm dịch vụ công theo cơ chế độc lập, không phụ thuộc vào việc duy trì các doanh nghiệp không còn khả năng phục hồi.
Anh Đào