Việc cấp mã số vùng trồng và mã số cơ sở đóng gói là điều kiện bắt buộc để nhiều mặt hàng nông sản Việt Nam vào các thị trường xuất khẩu khó tính. Tuy nhiên, quá trình triển khai vẫn còn nhiều vướng mắc về thủ tục và phối hợp giữa các cơ quan, khiến Bộ Nông nghiệp và Môi trường phải đề xuất đơn giản hóa quy trình để tháo gỡ.
Chiều 13/7, Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức hội thảo trực tuyến với gần 300 điểm cầu trên cả nước để lấy ý kiến đối với dự thảo Nghị quyết của Chính phủ về đơn giản hóa thủ tục hành chính trong cấp mã số vùng trồng và mã số cơ sở đóng gói. Nghị quyết được xây dựng nhằm tháo gỡ những khó khăn phát sinh trong quá trình thực hiện Nghị định số 38/2026/NĐ-CP, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuất, tiêu thụ và xuất khẩu nông sản.
Theo cơ quan soạn thảo, đây là giải pháp mang tính chuyển tiếp trong thời gian chờ sửa đổi toàn diện Nghị định theo trình tự, thủ tục rút gọn, vừa bảo đảm yêu cầu quản lý nhà nước, vừa giảm bớt gánh nặng thủ tục cho người dân, hợp tác xã và doanh nghiệp.
Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp chủ trì buổi lấy ý kiến về dự thảo Nghị quyết của Chính phủ quy định đơn giản hóa thủ tục hành chính về mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói. Ảnh: VGP
Đơn giản hóa thủ tục, đẩy mạnh số hóa quản lý
Một trong những nội dung đáng chú ý của dự thảo là việc tinh gọn thành phần hồ sơ, đẩy mạnh thực hiện thủ tục trên môi trường điện tử và xây dựng hệ thống quản lý tập trung bằng dữ liệu số. Thông tin về vùng trồng và cơ sở đóng gói sẽ được kết nối với cơ sở dữ liệu truy xuất nguồn gốc cùng các hệ thống dữ liệu liên quan, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý và minh bạch thông tin.
Đối với vùng trồng phục vụ thị trường trong nước, thời gian giải quyết hồ sơ dự kiến rút xuống còn tối đa 3 ngày làm việc kể từ khi nhận đủ hồ sơ hợp lệ, đồng thời áp dụng cơ chế hậu kiểm. Trong khi đó, vùng trồng và cơ sở đóng gói phục vụ xuất khẩu vẫn thực hiện tiền kiểm với thời gian giải quyết không quá 10 ngày làm việc nhằm đáp ứng các yêu cầu kỹ thuật của từng thị trường nhập khẩu.
Các đại biểu tham dự hội thảo cơ bản thống nhất phương án cấp mã số vùng trồng theo vị trí thửa đất và từng bước tích hợp với cơ sở dữ liệu đất đai. Trường hợp thông tin đất đai chưa được cập nhật đầy đủ, UBND cấp xã sẽ xác nhận vị trí và diện tích sản xuất để làm căn cứ giải quyết hồ sơ.
Nhiều địa phương cho rằng việc đơn giản hóa thủ tục là cần thiết, nhưng cần đi kèm với quy định rõ trách nhiệm của chính quyền cấp xã trong xác nhận thông tin, cũng như hướng dẫn cụ thể về quy trình, biểu mẫu và cơ chế hậu kiểm để bảo đảm tính thống nhất khi triển khai.
Nâng cao hiệu quả quản lý, tạo nền tảng mở rộng xuất khẩu
Kết luận hội thảo, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Hoàng Hiệp nhấn mạnh việc đổi mới công tác cấp và quản lý mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói không chỉ phục vụ xuất khẩu mà còn hướng đến mục tiêu quản lý sản xuất, truy xuất nguồn gốc và bảo đảm an toàn thực phẩm đối với cả thị trường trong nước.
Theo Thứ trưởng, đơn giản hóa thủ tục không đồng nghĩa với nới lỏng quản lý. Đối với nông sản xuất khẩu, việc duy trì thời gian tiền kiểm tối đa 10 ngày là cần thiết để cơ quan chuyên môn đánh giá đầy đủ khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn của nước nhập khẩu, qua đó hạn chế rủi ro và bảo vệ uy tín của nông sản Việt Nam trên thị trường quốc tế.
Sau hội thảo, Bộ Nông nghiệp và Môi trường sẽ tiếp thu các ý kiến đóng góp, hoàn thiện dự thảo Nghị quyết và lấy ý kiến các bộ, ngành trước khi trình Chính phủ xem xét ban hành. Dự thảo cũng sẽ quy định rõ trách nhiệm của cơ quan chuyên môn trong việc tổng hợp, chuyển danh sách mã số vùng trồng và mã số cơ sở đóng gói đến cơ quan có thẩm quyền của nước nhập khẩu, bảo đảm thống nhất đầu mối và đáp ứng yêu cầu của từng thị trường.
Song song với đó, Bộ đề nghị các địa phương khẩn trương rà soát, chuẩn hóa cơ sở dữ liệu vùng trồng và cơ sở đóng gói; đẩy mạnh phát triển hợp tác xã, tổ hợp tác và xây dựng các vùng nguyên liệu tập trung. Đây được xem là nền tảng quan trọng để giảm chi phí tuân thủ, nâng cao khả năng truy xuất nguồn gốc, xây dựng thương hiệu nông sản và tăng sức cạnh tranh cho hàng hóa Việt Nam.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường cũng cho biết sẽ tiếp tục làm việc với phía Trung Quốc nhằm thúc đẩy việc công nhận các mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói đã gửi trước đó, đồng thời phối hợp điều chỉnh quy trình tiếp nhận theo hướng phù hợp với mùa vụ, tăng cường truy xuất nguồn gốc, bảo đảm yêu cầu về an toàn thực phẩm và kiểm dịch thực vật.
Việc sớm tháo gỡ các vướng mắc trong cấp và quản lý mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói được kỳ vọng sẽ tạo động lực mới cho xuất khẩu nông sản, góp phần thực hiện mục tiêu đưa kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản của Việt Nam đạt 74 tỷ USD trong năm 2026.
Đinh Toàn (t/h)