16:15 11/06/2022

Chính sách tiền tệ đang đối diện những áp lực lớn

Hiện nay, Ngân hàng Trung ương (NHTW) các nước, trong đó có Việt Nam đều trong thế tiến thoái lưỡng nan khi phải đảm bảo 2 mục tiêu hỗ trợ tăng trưởng và giữ ổn định, kiềm chế lạm phát.

Những biến cố lớn liên tục xảy ra trong những năm gần đây, từ cuộc chiến tranh thương mại Mỹ - Trung, đại dịch Covid-19 cho tới gần nhất là cuộc xung đột Nga – Ukraina, đã khiến cục diện kinh tế, chính trị thế giới thay đổi nhanh chóng. Môi trường kinh tế - tài chính toàn cầu đang đối mặt nhiều bất định, trong đó Việt Nam cũng chịu nhiều tác động lớn.

Chính sách tiền tệ đang đối diện những áp lực lớn
Chính sách tiền tệ đang đối diện những áp lực lớn

Những tác động tiêu cực đến kinh tế toàn cầu

Theo đánh giá của Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), xung đột tại Ukraina trước mắt làm cho tăng trưởng kinh tế toàn cầu chậm lại và lạm phát tăng cao. Tuy nhiên đó mới chỉ là hiệu ứng vòng 1. Cho đến thời điểm hiện tại, không ai có thể dự báo chính xác các diễn biến trong tương lai của xung đột này là như thế nào. Kể cả trong trường hợp hoà bình có thể đến vào ngày mai, thì vẫn sẽ tiếp tục xuất hiện các hiệu ứng vòng 2, vòng 3, dẫn đến định hình lại trật tự mới của kinh tế và tài chính toàn cầu.

TS. Nguyễn Đức Kiên, Tổ trưởng Tổ Tư vấn kinh tế của Thủ tướng nhận định, mặt bằng giá cả tại nhiều quốc gia tăng cao do sự phục hồi của nhu cầu tiêu dùng, tình trạng gián đoạn chuỗi cung ứng kéo dài và xung đột quân sự Nga-Ukraina, buộc các NHTW phải triển khai biện pháp can thiệp mạnh tay hơn. Cuộc xung đột quân sự đã khuếch đại ảnh hưởng của biến động giá cả và gián đoạn chuỗi cung ứng lên chỉ số giá tiêu dùng. Mặt bằng giá cao được dự báo sẽ kéo dài và lan ra phạm vi toàn cầu do 3 lý do: năng lượng và thực phẩm là hai mặt hàng chiếm tỷ trọng lớn trong chi tiêu của người dân; các lệnh trừng phạt của phương Tây với Nga sẽ khó chấm dứt trong ngắn hạn; và chính sách zero-Covid kéo dài của Trung Quốc. 

Theo TS. Nguyễn Đức Kiên, cuộc suy thoái kinh tế lần này có điểm khác biệt rất lớn so với các cuộc suy thoái trước đây, thể hiện ở vai trò của Trung Quốc. Nếu như năm 2008, GDP tính theo ngang giá sức mua của Trung Quốc chỉ đóng góp vào 12,1% GDP toàn cầu thì tới năm 2020, tỷ trọng này đã đạt 18,3%, vượt Hoa Kỳ (15,8%) trở thành nền kinh tế lớn nhất thế giới. Năm 2020, tiêu thụ năng lượng của Trung Quốc (26,1%) chiếm tỷ trọng lớn nhất toàn cầu, gần bằng mức của Hoa Kỳ (15,8%) và Châu Âu (13,9%) cộng lại. Việc Trung Quốc kiên quyết theo đuổi chính sách zero-Covid đã khiến các hoạt động sản xuất và hậu cần trong chuỗi giá trị toàn cầu bị ảnh hưởng nghiêm trọng.

Các yếu tố lớn kể trên có mối liên hệ chặt chẽ và cùng tác động tiêu cực tới triển vọng kinh tế toàn cầu trong thời gian tới. Thời gian vừa qua, các tổ chức quốc tế đã liên tục hạ dự báo tốc độ tăng trưởng kinh tế toàn cầu. Tất các các vấn đề mà thế giới đang đối mặt cũng có tác động rất lớn tới nền kinh tế Việt Nam.

TS. Cấn Văn Lực, Thành viên Hội đồng tư vấn chính sách tài chính – tiền tệ quốc gia cũng đồng tình khi đưa ra nhận định, kinh tế thế giới tiếp tục phục hồi không đồng đều và kinh tế Trung Quốc tăng trưởng chậm lại là yếu tố rất quan trọng. “Hiện nay Trung Quốc đóng góp khoảng 30% tăng trưởng kinh tế toàn cầu. Năm nay, tốc độ tăng trưởng của quốc gia này sụt giảm, chỉ bằng khoảng một nửa năm ngoái, do đó khoảng 15% tăng trưởng kinh tế toàn cầu bị tụt đi do yếu tố Trung Quốc”, ông Lực đánh giá.

Chính sách tiền tệ đang đối diện những áp lực lớn
Ảnh minh họa

Giải pháp nào cho Việt Nam?

Đặt trong bối cảnh chung của kinh tế thế giới, TS. Cấn Văn Lực đánh giá cụ thể vào các rủi ro của nền tài chính – tiền tệ toàn cầu, trong đó rủi ro lớn nhất là nghĩa vụ trả nợ. Trước hết các NHTM châu Âu chịu rủi ro vỡ nợ từ Nga và Ukraina là tương đối lớn, khoảng 135 tỷ USD tập trung vào 3 chủ nợ lớn nhất là Ý, Pháp , Áo. Bên cạnh đó, trong giai đoạn 2019-2021, nợ toàn cầu tăng rất nhanh vì lãi suất thấp trong 3 năm này đã thúc đẩy cả khu vực Chính phủ, hộ gia đình, DN đều tăng vay nợ. Một số quốc gia như Srilanka đã tuyên bố vỡ nợ vào tháng 4/2022 và 70 quốc gia nằm trong nhóm thu nhập thấp, trung bình, đang phát triển rơi vào nhóm nguy hiểm nợ. Đối với Trung Quốc, tỷ lệ vỡ nợ TPDN nước này ở mức kỷ lục 23,3 tỷ USD năm 2021; dự báo sẽ tăng 10-30% vào năm 2022.

Việt Nam đang phải giải quyết bài toán một phương trình nhưng có tới bốn ẩn số. Đối với vĩ mô, chúng ta phải kiên trì 4 mục tiêu: tăng trưởng GDP; kiểm soát lạm phát; giảm thất nghiệp; xuất khẩu ròng - TS. Cấn Văn Lực

Cùng với các khoản nợ này, nghĩa vụ trả nợ gia tăng, cộng hưởng với 2 yếu tố là đồng USD tăng giá mạnh từ đầu năm tới nay và việc dịch chuyển dòng vốn đầu tư, đã dẫn tới xu hướng tăng lãi suất là chủ đạo trên thế giới. Hiện nay, NHTW các nước đều trong thế tiến thoái lưỡng nan khi phải đảm bảo 2 mục tiêu hỗ trợ tăng trưởng và giữ ổn định, kiếm chế lạm phát. “Có thể nói NHNN cũng đối diện với những khó khăn tương tự, thậm chí còn khó hơn vì phải theo đuổi đa mục tiêu”, ông Lực bổ sung.

Do sự mở cửa hội nhập ngày càng sâu rộng của nền kinh tế Việt Nam, nên các tác động của tài chính toàn cầu đối với Việt Nam là rất lớn. Ông Lực phân tích, quy mô thị trường tài chính nước ta ở mức trung bình, cấu trúc vẫn thiên lệch về phía hệ thống ngân hàng. Trong khi đó, áp lực nợ và nghĩa vụ trả nợ ở cả phía Chính phủ và DN đều gia tăng. Trên thị trường chứng khoán, rủi ro đến từ hiện tượng 4Đ (Điều chỉnh; Đầu cơ; Đòn bẩy; Đám đông) thể hiện tính minh bạch chưa cao, chất lượng DN, nhà đầu tư còn thấp, một số vi phạm trên TTCK ảnh hưởng đến niềm tin thị trường, tăng rủi ro hệ thống…

“Trong lúc các cấu phần khác của thị trường vốn đối diện nhiều rủi ro như vậy, thì áp lực lạm phát gia tăng càng khiến NHNN ở thế khó, thậm chí là cực khó. Các NHTM được yêu cầu phấn đấu giảm lãi suất để phục hồi kinh tế, nhưng thực sự rất khó để giảm được”, TS. Cấn Văn Lực nói.

TS. Trần Du Lịch, Thành viên Hội đồng tư vấn chính sách tài chính tiền tệ quốc gia cũng đặt vấn đề, Việt Nam đang phải giải quyết bài toán một phương trình nhưng có tới bốn ẩn số. Đối với vĩ mô, chúng ta phải kiên trì 4 mục tiêu: tăng trưởng GDP; kiểm soát lạm phát; giảm thất nghiệp; xuất khẩu ròng. Ông Lịch khuyến nghị, giải pháp quan trọng nhất hiện nay là tháo gỡ mọi trở ngại để nền kinh tế hấp thụ được vốn, nếu không thì mọi giải pháp hỗ trợ khác đều là vô nghĩa.

“Lạm phát là thuế vô hình đánh vào toàn dân, tác động rất xấu, nhưng sẽ xấu hơn cho đất nước nếu trì trệ, thất nghiệp gia tăng”, TS. Trần Du Lịch nhấn mạnh.

TS Lê Xuân Nghĩa “Chính phủ nên sử dụng chính sách tài khoá thay vì chính sách tiền tệ trong nỗ lực hỗ trợ doanh nghiệp”

TS Lê Xuân Nghĩa “Chính phủ nên sử dụng chính sách tài khoá thay vì chính sách tiền tệ trong nỗ lực hỗ trợ doanh nghiệp”

Trao đổi với báo chí về vấn đề kiến nghị ngân hàng giảm lãi suất cho vay của các doanh nghiệp gặp khó khăn do đại dịch Covid-19 TS Lê Xuân Nghĩa Chuyên gia kinh tế cho rằng trong giai đoạn hiện nay Chính phủ nên sử dụng chính sách tài khoá thay vì chính sách tiền tệ trong nỗ lực hỗ trợ doanh nghiệp

Khánh Ngọc

Theo dõi Thương Trường trên